Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HỒNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05-9-2024

“V/v ly hôn”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Nguyễn Thị Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Văn Sinh;

Bà Lương Thị Anh Đào.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Liếng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Hồng, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 131/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Đ, sinh năm 1979.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1976.

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị Đ có mặt tại phiên tòa, anh T vắng mặt có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Đ thể hiện ý kiến như sau: Năm 1998, vợ chồng chị có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã B ngày 05/11/1998. Trong cuộc sống hôn nhân có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết T1, sinh năm 1999 và Nguyễn Linh L, sinh năm 2003. Do cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được nguyên nhân do anh T thường xuyên rượu chè chửi bởi vợ con vô cớ và thường xuyên đánh đập nên chị đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án vào năm 2022 và Tòa án có mời vợ chồng hòa giải thì anh T có làm tờ cam kết ngày 23/12/2022 nên chị đã rút đơn để vợ chồng hàn gắn tình cảm. Nhưng khi chị rút đơn về được khoảng 03 ngày sau thì anh T vẫn không thay đổi, tiếp tục hành hung chị nên chị đã bỏ đi ở nhờ nhà người khác và vợ chồng chị không còn sống chung từ đầu năm 2023. Từ khi chị đi đến nay anh T có đến tìm chị một lần để lấy giấy xe chứ không có ý định hàn gắn tình cảm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được nên chị cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Hiện nay các con đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Có 01 cái nền nhà chiều ngang 8m dài 21m ở xã B, trị giá khoảng 300.000.000đồng và 04 con trâu trị giá tổng cộng là 60.000.00đồng nhưng vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Có nợ tiền vay của Ngân hàng C – Phòng giao dịch huyện T nhưng đã giải quyết xong bằng quyết định số 51/2024/QĐST-DS ngày 15/8/2024 trong vụ án khác nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

- Theo các văn bản ý kiến ngày 04/7/2024 của bị đơn anh Nguyễn Văn T thể hiện ý kiến như sau: Anh thống nhất theo ý kiến trình bày của nguyên đơn về quá trình hôn nhân. Về hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn vì anh còn thương vợ con. Do lúc trước anh thường xuyên uống rượu, chửi bới vợ nên vợ anh giận đã dẫn cháu ngoại về nhà chị vợ sống khoảng hơn 01 năm nay, nên vợ chồng không còn sống chung từ khoảng hơn 01 năm nay. Trong thời gian vợ đi, anh có đến nhà một lần để năn nỉ mong vợ về hàn gắn tình cảm nhưng vợ vẫn cương quyết không chịu về, từ đó đến nay anh không đến năn nỉ lần nào nữa. Hiện nay anh sống bằng nguồn tiền của con đi làm ở S gửi về cho anh một tháng 1.500.000đồng (nhưng vợ đã lấy 500.000đồng đi đóng lãi Ngân hàng), nhưng từ khoảng 02 tháng nay thì con không gửi về cho anh nữa. Trường hợp vợ và 02 con thống nhất ký tên giao hết tài sản gồm 01 cái nền nhà chiều ngang 8m dài 21m ở xã B, trị giá khoảng 300.000.000đồng và 04 con trâu trị giá 60.000.00đồng thì anh đồng ý ký tên ly hôn và anh sẽ trả nợ Ngân hàng Chính sách xã hội 30.000.000đồng. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết T1, sinh năm 1999 và Nguyễn Linh L, sinh năm 2003. Hiện nay các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Có nợ tiền vay của Ngân hàng C – Phòng giao dịch huyện T nhưng đã giải quyết xong bằng vụ án khác nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Sáng ngày 05/9/2024 anh T có đến Tòa án nộp văn bản ý kiến, đơn xin xét xử vắng mặt thể hiện nội dung là anh đồng ý ly hôn và xin được xét xử vắng mặt do đang bị bệnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Trần Thị Đ kiện anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1976, địa chỉ: ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để yêu cầu ly hôn. Đây là vụ kiện “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt và đơn xin vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về áp dụng pháp luật: Do chị Đ và anh T chung sống và đăng ký kết hôn năm 1998 nên Hội đồng xét xử áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 là Luật có hiệu lực tại thời điểm xác lập để xem xét về quan hệ hôn nhân và gia đình, còn thủ tục áp dụng theo khoản 2 Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Đ và anh Nguyễn Văn T chung sống với nhau năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B vào ngày 05/11/1998 theo quy định tại Điều 5, Điều 6 và Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.

Chị Trần Thị Đ cho rằng vợ chồng thường xuyên cãi nhau, sống không hợp, anh T thường xuyên uống rượu, chửi và xúc phạm chị, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn, vợ chồng đã không còn sống chung từ đầu năm 2023 nên chị cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T vì trước đây chị đã từng khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T một lần, khi đó anh T năn nỉ nên chị đã rút đơn kiện và Tòa án đã đình chỉ, chị Đ có cung cấp Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 118/2022/QÐST-HNGĐ ngày 23/12/2022. Anh T2 cũng thừa nhận khi chị Đ khởi kiện lần đầu tiên vào năm 2022 thì anh có viết tờ cam kết ngày 23/12/2022, anh thừa nhận tờ cam kết này do anh trực tiếp lăn tay.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T2 thừa nhận là trước đây anh có thường xuyên uống rượu, chửi chị Đ nên vợ anh bỏ về nhà người chị sống từ năm 2023, khi chị Đ bỏ đi thì anh có đến năn nỉ 01 (một) lần nhưng chị Đ không đồng ý nên từ đó đến nay anh không năn nỉ nữa. Anh T2 cho rằng còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn nhưng tại biên bản hòa giải ngày 30/7/2024 thì anh T2 trình bày nếu vợ và các con anh đồng ý ký tên để anh được sở hữu tài sản là 01 (một) nền nhà ngang 08m, dài 21m, trị giá 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) ở xã B và 04 con trâu trị giá tổng cộng là 60.000.000 đồng thì anh đồng ý ly hôn. Điều này thể hiện anh T2 không muốn hàn gắn tình cảm với chị Đ mà chủ yếu do chị Đ chưa thống nhất ký tên giao tài sản nên anh T2 mới không đồng ý ly hôn nên mục đích không nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc, bền vững.

Sau khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì sáng ngày 05/9/2024 anh Nguyễn Văn T có đến Tòa án giao nộp văn bản ý kiến, đơn xin xét xử vắng mặt cùng đề ngày 05/9/2024 thể hiện ý kiến “...Nay tôi thấy vợ chồng tôi đã ly thân một thời gian nhưng không hàn gắn lại được tình cảm, có sống chung lại thì cũng không hạnh phúc. Vì vậy, tôi đồng ý ly hôn với chị Đ, yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi với chị Đ được ly hôn. Ngoài ra, tôi không có yêu cầu nào khác. Trên đây là ý kiến của tôi đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tôi cam đoan ý kiến trên là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và tôi cam đoan không khiếu nại về sau. Kính mong Tòa án chấp nhận yêu cầu của tôi”. Đồng thời, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trần Thị Đ và anh Nguyễn Văn T đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết T1, sinh năm 1999 và Nguyễn Linh L, sinh năm 2003, hiện đã trưởng thành và tự lao động sinh sống được, các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Chị Đ và anh T cho rằng tài sản của vợ chồng có 01 nền nhà tại ấp C, xã B, huyện T (chưa được cấp giấy) và 04 con trâu (nền nhà và 04 con trâu thì anh T đang quản lý). Chị Đ và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án nên Hội đồng không xem xét. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp thì sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

- Về nợ chung: Chị Đ và anh T thừa nhận trong quá trình chung sống vợ chồng có nợ tiền vay của Ngân hàng C – Phòng G, số nợ đã được giải quyết xong bằng vụ án khác nên không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trần Thị Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 1, Điều 5, Điều 6 và Điều 8 của Luật Hôn nhân gia đình năm1986;

Áp dụng Điều 56 và Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử.

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Đ.

Chị Trần Thị Đ được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết T1, sinh năm 1999 và Nguyễn Linh L, sinh năm 2003, hiện đã trưởng thành và tự lao động sinh sống được, các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét

- Về tài sản chung: Đương sự chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Đối với số tiền vay mà chị Đ, anh T còn nợ của Ngân hàng C – Phòng giao dịch huyện T đã giải quyết xong bằng quyết định số 51/2024/QĐST-DS ngày 15/8/2024 trong vụ án khác, đương sự không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Trần Thị Đ chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0010123 ngày 03/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, chị Đ không phải nộp thêm. Anh Nguyễn Văn T không phải chịu tiền án phí.

Đương sự có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày được tính từ ngày tuyên án 05/9/2024. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tân Hồng;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hồng;
  • - Các đương sự;
  • - UB nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Điền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger