Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST

Ngày 04 tháng 9 năm 2024

V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

---------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Ánh Dương

* Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Tin.
  • 2. Ông Đào Xuân Thịnh.

* Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hải Đăng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Dũng.

* Đại diện VKSND huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn M - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/8/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984 (Có mặt)
  • Nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  • Nơi ở tạm: Thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  • - Bị đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm 1983 (Có mặt)
  • Cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 15/7/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Trần Văn N kết hôn ngày 06/2/2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn vợ chồng chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, chị và anh N về chung sống với nhau tại gia đình anh N. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 06/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh N xúc phạm, đánh đạp chị dẫn đến vợ chồng hay đánh, cãi, chửi nhau. Vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 05/2024 đến nay. Nay chị xác định mẫu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị yêu cầu Toà án nhân dân huyện Yên Dũng giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn N.

Về con chung: Chị và anh N có 03 con chung là Trần Thị Hồng N1, sinh ngày 02/12/2006; cháu Trần Thị N2, sinh ngày 16/7/2009 và cháu Trần Gia H1, sinh ngày 16/10/2018. Cháu Trần Thị Hồng N1, cháu Trần Thị N2 hiện đang do anh N nuôi dưỡng. Cháu Trần Gia H1 hiện đang do chị nuôi dưỡng. Ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục nuôi 01 con chung là Trần Gia H1, anh N tiếp tục nuôi 02 con chung là Trần Thị Hồng N1, Trần Thị N2 và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị làm lao động tự do, thu nhập là 11.000.000 đồng/tháng. Chị có nơi ở ổn định và nuôi 01 con ăn học từ khi ly thân đến nay. Chị cam kết sẽ trực tiếp nuôi con đảm bảo ổn định và phát triển. Anh Trần Văn N là thợ tự do, có thu nhập ổn định.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp, ruộng chị tác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 07/8/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Trần Văn N trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn ngày 06/2/2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn vợ chồng anh được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, A và chị H về chung sống với nhau tại gia đình chồng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 07/2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống. Vợ chồng anh đã ly thân từ tháng 07/2024 đến nay. Nay Anh xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh đồng ý ly hôn chị Nguyễn Thị H.

* Về con chung: Vợ chồng anh có 03 con chung là Trần Thị Hồng N1, sinh ngày 02/12/2006; cháu Trần Thị N2, sinh ngày 16/7/2009 và cháu Trần Gia H1, sinh ngày 16/10/2018. Cháu Trần Thị Hồng N1, cháu Trần Thị N2 hiện đang do anh nuôi dưỡng. Cháu Trần Gia H1 hiện đang do chị H nuôi dưỡng. Ly hôn anh xin được nuôi dưỡng cháu Trần Thị Hồng N1 và Trần Thị N2, cháu Trần Gia H1. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh làm lao động tự do, thu nhập là 40.000.000 đồng/tháng. Anh có nơi ở ổn định và nuôi 02 con ăn học từ khi ly thân đến nay. Chị cam kết sẽ trực tiếp nuôi con đảm bảo ổn định và phát triển.

* Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Biên bản xác minh ngày 30/8/2024, ông Lê Quang K – Phó thôn Việt Thắng N, xã Đ cho biết: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn N là công dân hiện cư trú tại: Thôn V, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn N kết hôn năm 2006 Sau khi kết hôn thì đến nay chị H về ở tại: Thôn V, xã Đ, huyện Y. Chị H, anh N phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan diểm sống.

* Tại Biên bản xác minh ngày 27/8/2024, bà Kiều Thị M1 – Là mẹ đẻ anh Trần Văn N cho biết: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn N kết hôn năm 2006. Sau khi kết hôn thì anh N, chị H sống tại: Thôn V, xã Đ, huyện Y. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Đến Tháng 7/2023, chị H bỏ về bố mẹ đẻ sinh sống. Năm 2024 chị H nộp đơn xin ly hôn sau đó lại rút đơn và vợ chồng quay lại chung sống với nhau. Tuy nhiên, lại có nhiều mâu thuẫn, bất đồng nên tháng 6/2024 chị H lại bỏ đi và vợ chồng ly thân nhau từ đó đến nay.

Toà án đã mở phiên hoà giải để hoà giải về quan hệ vợ chồng, con chung, tài sản, công nợ, án phí nhưng không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên ý kiến về việc giải quyết vụ án, không có chứng cứ gì khác giao nộp cho Toà án và cũng không có yêu cầu hoặc đề nghị gì khác.

Sau phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 55, Điều 56, Điều 81, khoản 01 khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn N thuận tình ly hôn.
  • - Về con chung: Giao cho anh Trần Văn N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Trần Thị Hồng N1, sinh ngày 02/12/2006 và Trần Thị N2, sinh ngày 16/7/2009
  • Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 con chung là Trần Gia H1, sinh ngày 16/10/2018.
  • - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn N không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  • - Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ruộng canh tác: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • - Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn N xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng và được coi là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy, chị H, anh N có thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi, chửi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mặc dù bản thân và gia đình đã tích cực hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Vì vậy, xét mâu thuẫn giữa chị H, anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn N thuận tình ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Vợ chồng chị H, anh N có 03 con chung là cháu Trần Thị Hồng N1, sinh ngày 02/12/2006, cháu Trần Thị N2, sinh ngày 16/7/2009 và cháu Trần Gia H1, sinh ngày 16/10/2018. Khi giải quyết vụ án về ly hôn này cần xem xét đến quyền lợi của các bên đương sự nhất là quyền lợi mọi mặt của trẻ em. Xét điều kiện nuôi con thấy: Từ khi ly thân đến nay thì cháu Trần Thị Hồng N1, cháu Trần Thị N2 đang do anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định, cháu Trần Gia H1 là con gái, mới gần 06 tuổi, còn bé và đang do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Hiện chị H đang làm công nhân, anh N đang làm nghề tự do, cả hai đều có thu nhập ổn định đảm bảo cuộc sống và đảm bảo việc nuôi dưỡng các con chung. Nên Hội đồng xét xử thấy: cần chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Gia H1 và không yêu cầu cấp dưỡng của chị H. Không chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng cả 03 con chung của anh N. Cần giữ nguyên hiện trạng nuôi con chung của chị H, anh N như hiện nay. Giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Trần Gia H1, sinh ngày 16/10/2018, giao cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Trần Thị Hồng N1, sinh ngày 02/12/2006, cháu Trần Thị N2, sinh ngày 16/7/2009 là phù hợp nguyện vọng của cháu N1, cháu N2 và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và đảm bảo sự ổn định, phát triển về mọi mặt của cháu Nhung, cháu Như, cháu Hân và phù hợp Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình . Anh Trần Văn N, chị Nguyễn Thị H không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh N, chị H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn N không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Điều 55, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn N thuận tình ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cho anh Trần Văn N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Trần Thị Hồng N1, sinh ngày 02/12/2006 và Trần Thị N2, sinh ngày 16/7/2009

    Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 con chung là Trần Gia H1, sinh ngày 16/10/2018.

    Anh Trần Văn N, chị Nguyễn Thị H không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh N, chị H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn N không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ruộng canh tác: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: 0005302 ngày 07/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang,
  • - VKSND huyện Yên Dũng,
  • - Chi cục THADS Yên Dũng,
  • - UBND xã Đồng Phúc,
  • - Các đương sự,
  • - Lưu hs.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Ánh Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Trần Văn Nhân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger