Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Minh - Cán bộ hưu trí Phường 2, thành phố Sa Đéc.
  2. Bà Nguyễn Thanh Thảo - P. Trưởng phòng Giáo dục Đào tạo Tp. Sa Đéc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Dương Hoàng Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn P; giới tính: Nam; sinh ngày 24/4/2007; nơi sinh: Tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số G Kênh S, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12.

- Cha: Trần Minh D, sinh năm 1979 (Người đại diện của bị cáo).

- Mẹ: Đoàn Thị T, sinh năm 1986 (Người đại diện của bị cáo).

- Anh, chị, em: Không có.

- Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự: Không có.

- Nhân thân: Bản án số 53/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xử phạt 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày 29/11/2023 về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tạm giữ: Ngày 17/02/2024.

- Tạm giam: Ngày 20/02/2024.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo và người đại diện của bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn P:

Ông Hà Văn N, là Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh số 1 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (có mặt).

Bị hại:

- Em Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 07/4/2007 (có mặt).

Người đại diện: Chị Lê Thị Kim N1, sinh năm 1981, là mẹ ruột của em K (có mặt). Cùng nơi cư trú: Số G, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ và lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Lê Minh K:

Luật sư Phạm Văn K1 - Văn phòng luật sư Phạm Văn K1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

(Luật sư K1 vắng mặt, không có lý do. Bị hại, người đại diện của bị hại đồng ý xét xử vắng mặt người bảo vệ và lợi ích hợp pháp của mình).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ, ngày 16/02/2024, bị cáo Trần Văn P và em Nguyễn Lê Minh K cùng nhau đi uống cà phê đến khoảng 01 giờ ngày 17/02/2024 thì về. Do đêm khuya nên cả 02 đi về nhà ông Đoàn Văn T1 (ông ngoại của P) tọa lạc tại Hộ không số, ấp T, xã T, thành phố S để ngủ qua đêm.

Đến khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 17/02/2024, P thức dậy nhìn thấy em K đang ngủ trên giường và có để 01 bóp da bên trong có 8.450.000 đồng dưới chân, 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y35 trên đầu nằm nên P đến lấy và đem cất giấu vào học tủ thờ trong nhà của ông T1.

Sau khi lấy tiền, điện thoại di động cất giấu xong thì P kêu em K thức dậy và nói dối với em K là có người vào lấy trộm tài sản của em K nhưng P rượt đuổi theo để bắt nhưng không bắt được. Sau đó, P và em K cùng đến Công an xã T, thành phố S để trình báo sự việc. Kết quả xác minh của cơ quan Công an, P đã khai nhận toàn bộ hành vi đã lấy trộm tài sản của em K.

Công an tiến hành thu giữ gồm: 01 điện thoại di động, hiệu VIVO Y35; 01 cái bóp da nam màu đen; số tiền 8.450.000 đồng mà P đã lấy trộm của em K và 01 ví da màu đen có chữ NY; 01 điện thoại di động, hiệu VIVO Y18 màu xanh đen, bị vỡ màn hình nhiều vị trí, đã qua sử dụng của P.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 18/HĐ.ĐGTS ngày 26/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S, kết luận:

- 01 điện thoại di động, hiệu VIVO Y35, màu xanh đen. Giá tài sản định giá là 3.966.666 đồng.

- 01 phôi sim điện thoại mạng Mobifone số 0783829179. Giá tài sản định giá là 25.000 đồng.

- 01 cái bóp da nam màu đen, không nhãn hiệu. Giá tài sản định giá là 25.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá là: 4.016.666 đồng.

Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là:

8.450.000 đồng + 4.016.666 đồng = 12.466.666 đồng.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra P còn khai nhận trong khoảng tháng 11/2023 tại địa bàn xã T, thành phố S P còn lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax của một người tên Thiên P1 (không rõ họ và địa chỉ) rồi đem cất giấu thì bị mất.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho em Nguyễn Lê Minh K nhận lại toàn bộ số tài sản bị P chiếm đoạt và không có yêu cầu gì.

Đối với 01 ví da màu đen có chữ NY là của P nên đã trả lại cho P nhận xong. Riêng đối với 01 điện thoại di động, hiệu VIVO Y18 màu xanh đen, bị vỡ màn hình nhiều vị trí, đã qua sử dụng là của P, cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Tại bản cáo trạng số: 25/CT-VKSTPSĐ ngày 02/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định đã truy tố; phân tích, nhận định hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố: Bị cáo Trần Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt chính: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn P mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù; áp dụng Điều 56 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng của Bản án số 53/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc để quyết định mức hình phạt chung đối với bị cáo. Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố; bị cáo không bào chữa, không tranh luận.

- Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa xác định: Bị hại không có yêu cầu gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm bào chữa:

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội; cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là đúng quy định của pháp luật. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, tài sản đã thu hồi và trao trả lại cho bị hại xong nên đây được xem là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo phạm tội do hoàn cảnh kinh tế gia đình thuộc diện khó khăn, cha mẹ thiếu sự quan tâm, giáo dục con nhưng tuổi đời của bị cáo còn trẻ chưa nhận thức đầy đủ pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết như bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và tài sản đã chiếm đoạt.

Từ đó, đủ cơ sở xác định:

Khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 17/02/2024, tại Hộ không số thuộc ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Trần Văn P đã có hành vi lén lút chiếm đoạt điện thoại di động kèm theo phôi sim, tiền và bóp da, có tổng trị giá 12.466.666 đồng của em Nguyễn Lê Minh K nhằm mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo là người chưa thành niên và đã trên 16 tuổi nên nhận thức được quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, với bản tính tham lam, ham chơi nhưng lại lười biếng lao động mà muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp với lỗi cố ý trực tiếp. Mặc dù, tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn nhưng hành vi của bị cáo là lén lút nhưng rất liều lĩnh, bởi lẽ: bị cáo thừa nhận đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bị hại nên đã có sự tính toán trước đó; lợi dụng lúc bị hại ngủ say, bị cáo thực hiện hành vi lấy tài sản rồi đem đi cất giấu; tiếp đó, bị cáo đã dùng lời lẽ gian dối để bị hại tin tưởng, không nghi ngờ đối với mình. Bị cáo đã lợi dụng mối quan hệ bạn bè, sự tin tưởng của bị hại, mong muốn chiếm đoạt tài sản của bị hại nhằm mục đích vụ lợi cá nhân. Hành vi của bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn vi phạm chuẩn mực đạo đức xã hội. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã thực hiện.

[4]. Xét thấy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội và đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. Cho nên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật; đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi hoàn trả cho bị hại nhận xong. Bản thân bị cáo đang chấp hành hình phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày 29/11/2023 về tội “trộm cắp tài sản” nhưng khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được coi là không có án tích theo quy định tại khoản 1 Điều 107 của Bộ luật hình sự; do đó, lần phạm tội này thuộc trường hợp “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” - đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Mặc khác, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi. Vì vậy, cần áp dụng quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[7]. Đối với quan điểm bào chữa của ông Hà Văn N là người bào chữa cho bị cáo P là phù hợp với tình tiết nội dung vụ án và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8]. Về tổng hợp hình phạt:

Bị cáo đang chấp hành hình phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng của Bản án số 53/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc nhưng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Do đó, cần tổng hợp hình phạt của hai bản án thành hình phạt chung là hình phạt tù theo quy định tại Điều 56, khoản 5 Điều 65 và Điều 104 của Bộ luật hình sự.

[9]. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[10]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người chưa thành niên và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[11]. Về xử lý vật chứng:

Về tài sản tạm giữ: Tiếp tục quản lý 01 điện thoại di động, hiệu VIVO Y18 màu xanh đen, bị vỡ màn hình nhiều vị trí (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng) của bị cáo Trần Văn P, được niêm phong bằng giấy trắng, có đóng dấu tròn màu đỏ của Công an xã T, thành phố S, ghi ngày 17/02/2024, có chữ ký ghi họ tên Trần Văn PTrần Minh D để đảm bảo thi hành án.

[12]. Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[13]. Đối với việc bị cáo khai nhận trong khoảng tháng 11/2023 tại địa bàn xã T, thành phố S còn lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax của một người tên Thiên P1. Qua xác minh, điều tra không xác định được người tên Thiên P1 là ai và họ tên, địa chỉ cụ thể. Về tài sản thì không thu giữ được nên cũng không có căn cứ để tiến hành định giá tài sản. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xem xét xử lý theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn P mức án 09 tháng tù (chín tháng tù).

Căn cứ vào Điều 56, khoản 5 Điều 65 và Điều 104 của Bộ luật hình sự :

Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng của Bản án số 53/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.

Bị cáo Trần Văn P phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 01 năm 06 tháng tù (một năm sáu tháng tù).

Thời hạn tù tính từ ngày 17/02/2024 (ngày tạm giữ).

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

4. Về xử lý vật chứng, :

Tiếp tục quản lý 01 điện thoại di động, hiệu VIVO Y18 màu xanh đen, bị vỡ màn hình nhiều vị trí (đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng) của bị cáo Trần Văn P, được niêm phong bằng giấy trắng, có đóng dấu tròn màu đỏ của Công an xã T, thành phố S, ghi ngày 17/02/2024, có chữ ký ghi họ tên Trần Văn PTrần Minh D để đảm bảo thi hành án.

(Hiện điện thoại do Chi cục thi hành án dân sự thành phố S đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/4/2024).

5. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Bị cáo Trần Văn P nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b)
  • - VKSND Tp. Sa Đéc; (2b)
  • - Công an Tp. Sa Đéc; (4b)
  • - Chi cục THA Tp. Sa Đéc; (1b)
  • - Sở Tư pháp; (1b)
  • - Thi hành án phạt tù; (1b)
  • - Những người tham gia tố tụng; (1b)
  • - Lưu VT, TP; (2b)
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 27/2024/QĐXXST-HS
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Điều 173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger