Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 29/2024/DS-ST

Ngày: 03-5-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

—————————

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Huỳnh Diệu Tuyết Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đỗ Văn Hòa.
  2. Bà Lê Thị Kiều Thu.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Châu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ T – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 303/20203/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:140/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 187/2024/QÐST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Đ, sinh năm 1950.
  2. Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1975.
  4. Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa: Có mặt nguyên đơn bà Trương Thị Đ; Vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Minh T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trương Thị Đ trình bày:

Vào ngày 15/02/2023 âm lịch, bà Trương Thị Đ có cho ông Nguyễn Minh T1 mượn số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để lo đám cưới cho con của ông T1 và hẹn trả lại sau đó, giữa bà Đ và ông T1 có viết giấy tay mượn tiền. Nhưng sau đó ông T1 cứ hẹn mãi không chịu trả nợ cho bà Đ, bà Đ nhiều lần đến gặp ông T1 yêu cầu trả nợ nhưng ông T1 tìm cách tránh né và đến nay vẫn không trả tiền cho bà Đ.

Nay bà Trương Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Minh T1 trả cho bà số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) và không yêu cầu trả lãi.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Minh T1: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần yêu cầu ông Nguyễn Minh T1 phải có mặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông Nguyễn Minh T1 cố tình trốn tránh không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Do đó Tòa án không thực hiện được việc lấy lời khai của bị đơn ông Nguyễn Minh T1. Tòa án đã thực hiện việc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án số 303/TB-TLVA ngày 19/10/2023; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 303/TB-TA ngày 06/3/2024; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 45/TB-TA ngày 29/3/2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST-DS ngày 29/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 187/2024/QÐST-DS ngày 15/4/2024.

Tại Biên bản xác minh ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết với đại diện Công an phường P, thành phố P và biên bản xác minh ngày 25/3/2024 với Trưởng khu phố B, phường P, thành phố P xác định: Ông Nguyễn Minh T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại khu phố B, phường P, thành phố P với vợ con. Tuy nhiên từ tết đến nay ông T1 không có về nhà, vắng mặt tại nơi cư trú.

Tòa án đã mở phiên hòa giải vào ngày 29/3/2024 để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng ông Nguyễn Minh T1 không có mặt tại phiên hòa giải và sau đó bà Trương Thị Đ đã có đơn xin từ chối hòa giải, đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật: Về thủ tục tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tiến hành tố tụng đúng quy định; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn không chấp hành các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên buộc bị đơn ông Nguyễn Minh T1 phải trả cho nguyên đơn bà Trương Thị Đ số tiền nợ là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ lời khai của các đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trương Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Minh T1 trả số tiền nợ vay là 20.000.000 đồng, do đó Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn có nơi cư trú tại: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng bị đơn ông Nguyễn Minh T1 cố tình vắng mặt và sau đó bà Trương Thị Đ có đơn xin từ chối hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS. Bị đơn ông Nguyễn Minh T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do đó Tòa án thực hiện việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Minh T1 vẫn không đến Tòa án trình bày lời khai, ý kiến, yêu cầu, cung cấp thông tin tài liệu chứng cứ và không có ý kiến gì phản đối yêu cầu của nguyên đơn cũng như tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp, được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên đơn bà Trương Thị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Minh T1 phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ vay là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Nguyên đơn cung cấp cho Tòa án 01 “Hợp đồng cho mượn tiền” ghi ngày 15/02/2023 Âm lịch thể hiện ông Nguyễn Minh T1 có mượn số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Bên mượn tiền ông T1 có ký tên T1.

Nguyên đơn trình bày: Vào ngày 15/02/2023 âm lịch, nguyên đơn có cho ông Nguyễn Minh T1 mượn số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để lo đám cưới cho con của ông T1 và hẹn trả lại sau đó. Nhưng sau đó ông T1 cứ hẹn mãi không chịu trả nợ, nguyên đơn nhiều lần đến gặp ông T1 yêu cầu trả nợ nhưng ông T1 tìm cách tránh né và đến nay vẫn không trả tiền cho nguyên đơn.

Tại hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 18/8/2023, bà Trương Thị Đ nộp đơn khởi kiện ông Nguyễn Minh T1, sau đó Tòa án có thông báo chuyển vụ việc sang hòa giải và vụ việc được hòa giải viên Nguyễn Thị Viết S hòa giải. Quá trình hòa giải thì hòa giải viên có thông báo cho bà Đ và ông T1 có mặt tại Tòa án vào ngày 18/9/2023 để hòa giải vụ việc. Thông báo được bà Đ và ông T1 ký nhận và tại buổi hòa giải ngày 18/9/2023, ông T1 có cung cấp 01 bản tự khai với nội dung: “Ngày 06/3/2023, tôi có mượn của bà Trương Thị Đ số tiền 20.000.000 đồng, để giải quyết công việc cá nhân của gia đình. Tôi có hẹn 2 tháng sau trả nhưng đến nay tôi không có khả năng trả hết, nên nay tôi xin trả mỗi tháng là 1.500.000 đồng. Tháng đầu tiên xin trả vào ngày 25/9/2023, kết thúc vào tháng 9/2024. Tôi cam đoan trả cho bà Trương Thị Đ đúng hẹn”. Vào ngày 18/9/2023, Tòa án có lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thể hiện những nội dung các bên đã thỏa thuận, thống nhất được và những nội dung các bên không thỏa thuận, thống nhất được như sau: Ngày 06/3/2023 (tức 15/02/2023 AL) bà Trương Thị Đ có cho ông Nguyễn Minh T1 mượn 20.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, để làm đám cưới cho con. Nhưng đến nay ông T1 không trả tiền, nay bà Đ yêu cầu ông T1 trả lại toàn bộ số tiền đã mượn không lấy lãi. Ông Nguyễn Minh T1 xác nhận có mượn bà Đ số tiền 20.000.000 đồng để lo việc cá nhân cho gia đình, do làm ăn thất bại nên chưa trả tiền được cho bà Đ, nay xin trả mỗi tháng 1.500.000 đồng. Bắt đầu trả từ tháng 9/2023 đến 08/2024. Bà Đ không đồng ý với phương án trả tiền của ông T1. Do vụ việc không hòa giải được nên đã chấm dứt hòa giải tại Tòa và chuyển đơn khởi kiện để tiến hành thụ lý giải quyết theo quy định.

Như vậy, từ những tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp cũng như tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, cho thấy việc bị đơn có nợ nguyên đơn số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) là có thật. Do vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn,

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 351, Điều 357, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Đ. Buộc bị đơn ông Nguyễn Minh T1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Trương Thị Đ số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về án phí:
    • - Buộc ông Nguyễn Minh T1 phải chịu 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Bà Trương Thị Đ, sinh năm 1950 là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/5/2024). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND TP. Phan Thiết;
  • -Chi cục THADS TP. Phan Thiết;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu: hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Huỳnh Diệu Tuyết Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/DS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 29/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 15/02/2023 âm lịch, bà Trương Thị Đ có cho ông Nguyễn Minh T1 mượn số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để lo đám cưới cho con của ông T1 và hẹn trả lại sau đó, giữa bà Đ và ông T1 có viết giấy tay mượn tiền. Nhưng sau đó ông T1 cứ hẹn mãi không chịu trả nợ cho bà Đ, bà Đ nhiều lần đến gặp ông T1 yêu cầu trả nợ nhưng ông T1 tìm cách tránh né và đến nay vẫn không trả tiền cho bà Đ. Nay bà Trương Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Minh T1 trả cho bà số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) và không yêu cầu trả lãi.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger