|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày 03/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hùng Hưng;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đình Hưng;
2. Ông Lê Khả Hòa.
Thư ký phiên toà: Ông Phùng Lê Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Diệp - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2024/HSST ngày 01/4/2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Khánh L; Sinh ngày 20 tháng 02 năm 1999 tại huyện C, tỉnh Trà Vinh; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn S và bà Trần Thị M; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: 01 tiền án. Bản án số 95/2018/HSST ngày 31/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, TP. xử phạt Hồ Khánh L 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
Tiền sự: Không; Nhân thân: xấu. Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 07/2019/QĐHC-ST ngày 04/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, TP. buộc bị cáo cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy với thời gian 15 tháng, kể từ ngày 22/11/2018. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 22/02/2020.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1972, địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 14/10/2023, Hồ Khánh L đi xe khách từ bến xe M đến bến xe liên huyện Đ, tỉnh Gia Lai để tìm chị Trần Thị T (người thân của L). Đến sáng ngày 15/10/2023, khi lên đến nơi thì L đã điện thoại cho chị T nhưng không liên lạc được. Sau đó, L đi bộ ngược về hướng xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Khi đi đến quán T1 thuộc địa phận thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai thì L phát hiện 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Blade, biển kiểm soát (BKS) 81U1-351.75 của chị Nguyễn Thị Q đang dựng trước quán tạp hóa, chìa khóa vẫn cắm ở trên xe nên L nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên để bán lấy tiền về lại TP. . Sau khi quan sát thấy không có người xung quanh nên L lên xe, nổ máy, chạy về hướng TP., tỉnh Gia Lai. Trên đường đi, L có dừng lại hỏi một số người dân đi đường về chỗ tiêu thụ xe nhưng không ai biết chỗ bán. Khi đi đến địa phận thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai do không chú ý nên L bị ngã xe, thương tích ở vùng chân và mặt, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. L được người dân gần đó đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh G.
Kết luận định giá số 48 ngày 19/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, Kết luận:
- 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Blade, BKS 81U1-351.75, xe đã qua sử dụng (được mua năm 2022 với giá 20.000.000đ). Giá trị còn lại là 80%. Giá trị định giá là: 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng);
Tại Bản Cáo trạng số 23/CT- VKS ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Hồ Khánh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng. Đề nghị tuyên bố bị cáo Hồ Khánh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hồ Khánh L từ 12 đến 15 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tính hợp pháp của tài liệu chứng cứ: Có cơ sở để nhận định các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[3] Bị cáo thừa nhận có hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có căn cứ để nhận định:
Vào ngày 15/10/2023, tại thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, Hồ Khánh L lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, biển kiểm soát 81U1-351.75 của chị Nguyễn Thị Q (giấy tờ xe đứng tên Vũ Văn D – chồng chị Q) trị giá 16.000.000 đồng.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực hành vi đầy đủ.
Hành vi của bị cáo Hồ Khánh L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy Cáo trạng số: 23/CT- VKS ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Thấy rằng, quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác đều phải được xử lý. Bị cáo Hồ Khánh L đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Q. Hành vi này của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội cần được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu (như đã nêu tại phần lý lịch).
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân, nguyên nhân phạm tội, khả năng nhận thức, điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, thấy rằng, bị cáo trộm cắp tài sản trị giá 16.000.000 đồng. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nhưng cũng có 01 tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân
xấu, đã từng phạm tội và bị phạt tù, đã từng nghiện ma túy và bị đưa đi cai nghiện ma túy, bị cáo không nghề nghiệp. Cần thiết phải phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt và góp phần đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
Xét không cần thiết phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật. Cụ thể: Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Blade, BKS 81U1-351.75 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Vũ Văn D (chồng chị Nguyễn Thị Q).
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết về trách nhiệm dân sự.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hồ Khánh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hồ Khánh L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Hồ Khánh L chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
- Các vấn đề khác: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lại Hùng Hưng |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 15 tháng tù
