Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày 03 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Ngô Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Quế Minh; Ông Ngô Phúc

Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 27/2024/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Đỗ H, sinh năm 1975, tại An Giang; Nơi cư trú: Khóm Trung Thnh, phường Mỹ Thới, Tp. Long Xuyên, tỉnh An Giang; nghề nghiệp:Bán vé số; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông và bà: Đỗ Tấn Phát (đã chết); bà Nguyễn Thị Dô; chồng Lê Thành Phố và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/01/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh An Giang (có mặt).

Bị hại: Anh Lê Văn T, sinh năm 1979 trú tại: tổ 3, ấp Tân Định, xã Tân Lập, huyện Tịnh Biên, An Giang (có mặt);

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị Hại: Ông Lương Minh H

Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : Anh Lê Thành Ph, sinh năm 1976, Nơi

cư trú: Khóm Tây Thnh, p. Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (có mặt)

Người làm chứng: chị Ngô Thị Thùy Tr ( vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, Đỗ H điều khiển xe mô tô biển số: 67AA-191.26 đi từ thành phố Long Xuyên đến khu vực cầu số 10 thuộc xã Vĩnh An, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang để bán vé số. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, nhìn thấy Lê Văn Tuấn đang ngồi trên cầu số 10. H chủ động làm quen, rủ Tuấn đi uống cà phê. Sau đó, H rủ Tuấn đi nhà nghỉ để quan hệ tình dục và hứa mua 500.000₫ vé số của Tuấn. Để tạo lòng tin, H đưa trước số tiền 500.000đ cho Tuấn nhưng chưa lấy vé số và chở Tuấn đến nhà nghỉ bảng hiệu “Sáu Danh” thuộc khóm Vĩnh Lộc, thị trấn Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Khi vào phòng nghỉ, H kêu Tuấn đi tắm, Tuấn cởi quần Jean và để cặp da màu đen bên ngoài rồi đi vào phòng tắm. Lúc này, H lấy trộm trong túi quần Jean của Tuấn số tiền 1.800.000 đồng và 01 cặp da màu đen. Đến khu vực xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, H dừng xe cập lề đường, mở cặp da kiểm tra bên trong cặp thấy 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Realme, 151 tờ vé số kiến thiết đài Bạc Liêu và một cuộn giấy dò, bên trong có số tiền 6.800.000đ. H lấy điện thoại và vé số rồi quăng cặp da vào thùng rác cập lề đường, tiếp tục điều khiển xe đi về Long Xuyên. Đến khu vực thuộc phường Mỹ Hòa, Tp.Long Xuyên, H bán lại 151 tờ vé số vừa trộm cho người phụ nữ đi bán vé số (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 1.200.000 đồng. Sau đó, H điều khiển xe mô tô đi về nhà. Sau khi bị trộm, Tuấn đến Công an thị trấn Vĩnh Bình trình báo vụ việc.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Realme, màu đen-xám. Đã trao trả cho bị Hại Lê Văn Tuấn.
  • Tiền Việt Nam: 9.600.000đ(trong đó: 4.200.000 đồng của H, 5.400.000₫ do anh Lê Thành Phố chồng của H tự nguyện nộp nhằm khắc phục hậu quả).
  • 01 xe môtô biển số: 67AA-191.26, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn: xám-trắng, số máy: JA70E0125000,số khung:RLHJA 3933PY703345.
  • 01 nón bảo hiểm có màu đỏ - xanh, phía trước và sau nón có dòng chữ “FUTA Bus Lines”, “CHẤT LƯỢNG LÀ DANH DỰ”, đã qua sử dụng; 01 áo khoác dài tay có màu đen xám và 01 bộ đồ thun có màu đen -trắng -vàng -cam, đã qua sử dụng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL.HĐ ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, kết luận:

  • 151 tờ vé số kiến thiết đài Bạc Liêu, chưa mở thưởng, có giá trị là 151 tờ × 9.000 đồng × 100% = 1.359.000 đồng.
  • 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Realme màu đen-xám, bên trong điện thoại có lắp 02 thẻ sim nhà mạng Viettel, trong tài khoản 02 sim không còn tiền,

tất cả đều đã qua sử dụng, có giá trị là 4.500.000 đồng × 20% = 900.000 đồng; Chi phí phục hồi 02 thẻ sim là 100.000 đồng và 01 cặp da màu đen chiều dài 30cm, chiều rộng 10cm, chiều cao 15cm, đã qua sử dụng, có giá trị là 80.000 đồng × 50% = 40.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá là: 2.399.000 đồng (Bằng chữ: Hai triệu,

ba trăm chín mươi chín ngàn đồng)

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Văn Tuấn không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng ý nhận số tiền bồi thường 9.600.000đ (chín triệu, sáu trăm ngàn đồng) do bị cáo và gia đình bị cáo giao nộp. Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 21/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố Đỗ H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Đỗ H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo về lo cho con. Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị Hại tổng số tiền 9.600.000đ; bị cáo có tác động gia đình (chồng) bị cáo giao nộp toàn bộ số tiền tại giai đoạn điều tra.

Người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Bị Hại khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Còn về phần trách nhiệm dân sự, đồng ý nhận số tiền 9.600.000đ, ngoài ra không yêu cầu thêm gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê Thành Phố (chồng của bị cáo) xác nhận đã tự nguyện nộp tổng số tiền 9.600.000đồng tại Công an bồi thường cho bị Hại Tuấn. Nay anh không yêu cầu bị cáo H phải bồi hoàn.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ H mức án từ 06 tháng tù đến 01 năm tù. Áp dụng Điều 584, 585, 586, 588, 589 BLDS ghi nhận sự tự nguyện giữa bị cáo Đỗ H bồi thường thiệt Hại cho bị hại Lê Văn Tuấn số tiền 9.600.000đ. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trao trả cho bị cáo và chồng Lê Thành Phố 01 xe mô tô biển số: 67AA-191.26, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn: xám - trắng, số máy: JA70E0125000, số khung: RLHJA 3933PY703345. Tịch thu, tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm có màu đỏ - xanh, phía trước và sau nón có dòng chữ “FUTA Bus Lines”, “CHẤT LƯỢNG LÀ DANH DỰ”, đã qua sử dụng; 01 áo khoác dài tay

có màu đen xám; 01 bộ đồ thun có màu đen -trắng- vàng-cam đã không còn giá trị sử dụng; tiếp tục tạm giữ số tiền 9.600.000₫ do anh Lê Thành Phố tự nguyện giao nộp để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Ông Lương Minh Hoàng trợ giúp viên pháp lý người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị Hại: Thống nhất quan điểm của Đại diện VKS tại phiên tòa. Bị Hại đồng ý nhận số tiền 9.600.000₫ đã được bị cáo và gia đình bị cáo nộp tại giai đoạn điều tra. Không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Đỗ H không tranh luận và bào chữa gì, xin trả lại chiếc xe vì đây là tài sản chung vợ chồng và là phương tiện đi bán vé số sinh sống hàng ngày nuôi sống gia đình. Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị Hại và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 9 giờ ngày 02/01/2024, tại khu vực khóm Vĩnh Lộc, thị trấn Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; bị cáo Đỗ H đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của Lê Văn Tuấn tiền Việt Nam 8.600.000 đồng; 01 cặp da màu đen giá trị 40.000 đồng; 101 tờ vé số kiến thiết đài Bạc Liêu chưa mở thưởng giá trị 909.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Realme màu đen-xám (bên trong điện thoại có lắp 02 thẻ sim nhà mạng Viettel, trong tài khoản 02 sim không còn tiền) giá trị 900.000 đồng; chi phí phục hồi 02 thẻ sim là 100.000 đồng. Tổng số tài sản H chiếm đoạt trị giá là: 10.549.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến

quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Đỗ H là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt được tài sản.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị Hại là người bị khuyết tật nặng, thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã giao nộp số tiền 4.200.000đồng và tác động chồng là anh Lê Thành Phố tự nguyện giao nộp 5.400.000đồng để khắc phục hậu quả; trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân không tốt. Ngày 21/7/2014 bị Công an huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, số tiền 1.500.000 đồng cùng ngày, đã nộp phạt xong. Bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản để đứng trước phiên tòa hôm nay. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, không biết hoàn lương. Cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000₫ đến 50.000.000đ. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa Bị cáo với bị Hại đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường, tổng số tiền bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản cho bị hại số tiền là 9.600.000đ. Gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền trên. Xét thấy, thỏa thuận nêu trên của các bên là tự nguyện nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Thành Phố: xin HĐXX nhận lại chiếc xe vì đây tài sản chung của anh với bị cáo H. Vợ chồng mua để bị cáo đi bán vé số kiếm sống, anh không biết bị cáo đi trộm. Anh tự nguyện giao nộp thêm số tiền 5.400.000đồng. Tổng cộng 9.600.000₫ tại giai đoạn điều tra. Anh không yêu cầu gì đối với số tiền đã giao nộp.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị Hại thống nhất nhận số tiền bồi thường 9.600.000₫ đã giao nộp tại giai đoạn điều tra. Xin giảm nhẹ cho bị cáo

[7] Về vật chứng: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Riêng đối với phần án phí DSST căn cứ điểm g, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo không phải chịu án phí DSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đỗ H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đỗ H 09 (Chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 02/01/2024).

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị Hại Lê Văn Tuấn số tiền 9.600.000đ (Chín triệu, sáu trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trao trả cho bị cáo và chồng Lê Thành Phố 01 xe mô tô biển số: 67AA-191.26, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn: xám – trắng, số máy: JA70E0125000, số khung: RLHJA 3933PY703345; Tiếp tục tạm giữ số tiền 9.600.000₫ (Chín triệu, sáu trăm ngàn đồng) do anh Lê Thành Phố đã nộp nộp theo giấy nộp tiền vào số tài khoản 6709203000030 kho bạc Nhà nước huyện Châu Thành ngày 27/02/2024 để đảm bảo việc thi hành án dân sự; Tịch thu, tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm; 01 áo khoác dài tay có màu đen xám; 01 bộ đồ thun đã qua sử dụng. (Đặc điểm tang vật theo Quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ-VKS-HS ngày 21/3/2024).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị Cáo Đỗ H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo không phải nộp án phí DSST đối với số tiền 9.600.000đ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ( ngày 03/5/2024).

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Phòng KTNV-THA – TAND tỉnh An Giang;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THA.DS huyện Châu Thành;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ngô Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị Cáo H trộm tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger