Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày: 02/05/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Phước Tâm.

2. Ông Châu Quốc Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 05 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:

* Bị cáo: Đặng Văn M - sinh ngày 24/6/2006 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ B, ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Đặng Văn D, sinh năm 1978 và bà Võ Thị X, sinh năm 1976; Chưa có vợ, con; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Đặng Văn D - sinh năm 1978 và bà Võ Thị X - sinh năm 1976; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Hồng D1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (có mặt).

* Bị hại: Nguyễn Trọng N - sinh năm 2007; Nơi cư trú: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Chị Nguyễn Thị C - sinh năm 1990; Nơi cư trú: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Trần Hồng T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ (có mặt).

* Người làm chứng:

  1. Nguyễn Văn P - sinh năm 2004; Nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  2. Dương Minh P1 - sinh năm 2004; Nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  3. Lê Chí H - sinh năm 2002; Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
  4. Trần Minh S - sinh năm 2001; Nơi cư trú: ấp H, xã H, TP C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  5. Nguyễn Hữu L - sinh năm 2006; Nơi cư trú: ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  6. Nguyễn Chí K - sinh năm 2005; Nơi cư trú: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  7. Cao Văn D2 - sinh năm 2006; Nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  8. Nguyễn Văn C1; Nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  9. Nguyễn Tuấn K1 - sinh năm 2002; Nơi cư trú: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  10. Đinh Châu T1 - sinh năm 1990; Nơi cư trú: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  11. Dương Nguyễn Hoàng K2 - sinh năm 1997; Nơi cư trú: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  12. Nguyễn Thị B - sinh năm 1948; Nơi cư trú: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Đặng Văn M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng giữa tháng 5/2023, Nguyễn Văn PNguyễn Tuấn K1 có phát sinh mâu thuẫn với nhau. Đến khoảng 22 giờ ngày 29/4/2023, cả hai thông qua điện thoại di động hẹn đánh nhau tại cầu K thuộc ấp G, xã P, huyện C, sáu đó P rủ Dương Minh P1, sinh năm 2004 và Nguyễn Hữu L, sinh năm 2006; P1 điện thoại rủ thêm Lê Chí H, sinh năm: 2002, Trần Minh S, sinh năm: 2001 và người tên H1 (không biết địa chỉ cụ thể); còn H điện thoại rủ thêm Đặng Văn M, Nguyễn Chí K, sinh năm 2005, Cao Văn D2, sinh năm: 2006, Nguyễn Văn C1, sinh năm 2001, và một người tên T2 (không rõ họ tên và địa chỉ) đến điểm hẹn trên đánh nhau. Khi đi P điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở P2 mang theo cây gỗ; H điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở K mang theo 01 cây kiếm; D2 điều khiển xe mô tô chở Mãi trên đường đi nhặt 01 đoạn gỗ ven đường mang theo; C1 điều khiển xe mô tô chở S, H1T2 đi chung một xe mang theo cây gỗ tất cả chạy đến điểm hẹn để giải quyết mẫu thuẫn với K1, Phía K3, sau khi hẹn đánh nhau, K3 có nói lại sự việc cho Đình Châu T3, Nguyễn Trọng N, Dương Nguyễn Hoàng K2 biết, K3 về nhà chế tạo 02 chai bơm xăng ( K3 lấy 02 vỏ chai bia đổ xăng vào lấy vải nhét vào miệng chai làm ngôi dẫn cháy) sau đó K3 kêu N dùng xe mô tô loại Wave nhãn hiệu LISOHAKA biển số 66P1-460.28 chở K3 đi đến điểm 1 hẹn cầu T, T3K2 đi bộ theo sau (xe mô tô 66P1-460.28 của anh Nguyễn Văn P3 cậu ruột của N đứng tên chủ sở hữu, anh P3 chết 2019 nên N quản lý và sử dụng đến khi bị gây án). Lúc này, khoảng 00 giờ ngày 29/4/2023, K3N đậu xe cách cầu T khoảng 200 mét đứng đợi nhóm của P đến, khi thấy nhóm của P thì K3 cầm 02 chai bơm xăng ném về nhóm của P nổ 01 chai không ai bị thương tích, còn 01 chai không nổ, thấy nhóm của P đông người hơn nên K3, N, T3, K2 bỏ chạy trốn nhóm của P chia ra nhiều nhóm đổi theo tim K3 nhưng không gặp, Đặng Văn M thấy xe mô tô của N đang dựng cặp mẻ đường nên M nhặt chai bơm xăng của K3 ném không nổ và 01 quẹt ga trên đường đốt cháy toàn bộ xe mô tô của N, sau đó cả nhóm về nhà. N đến Công an xã P, huyện C trình báo sự việc, đồng thời báo cáo Công an huyện C tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện ghi nhận đặc điểm và tài sản bị thiệt hại.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 10 giờ 30 phút ngày 29/4/2023 xác định hiện trường xảy ra vụ đốt xe mô tô là đường ĐT 856 ( gần ngã ba kênh T kết nối với tuyến du lịch G), không có nhà dân, thời điểm xảy ra không có xe cộ qua lại, tại hiện trường ghi nhận 01 xe mô tô bị cháy trơ ám khói chỉ còn lại phần khung sườn xe bằng kim loại nằm ngoài mép đường, tiến hành thu giữ 01 sườn xe mô tô, 01 mảnh thủy tỉnh (mảnh vỡ của chai bia) tại vị trí số 1, tro than phía dưới vị trí xe mô tô bị cháy tất cả được niêm phong để phục vụ công tác giám định.

Ngoài ra quá trình điều tra còn thu giữ 01 cây kiếm bằng kim loại màu trắng dài 49cm do Nguyễn Chí K giao nộp, 01 dao tự chế dài 97,5cm, lưỡi màu trắng dài 26cm, cán bằng kim loại tròn màu xám dài 71,5 mét do Nguyễn Tuấn K1 giao nộp đây là các hung khí mà các đối tượng mạng theo để đánh nhau. Riêng các hung khí khác như cây gỗ trên đường về nhóm của P ném bỏ mất.

Tại bản kết luận giám định số 562/KL-KTHS ngày 23/5/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh Đ đã giám định 02 mẫu vật được thu giữ là 01 mãnh thủy tỉnh (mảnh vỡ của chai bia) và tro than phía dưới vị trí xe mô tô bị cháy có kết luận như sau:

  1. Các mảnh vỡ thủy tinh được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3-2006613 nêu trên gửi đi giám định có phát hiện thành phần xăng dầu; không phát hiện thành phần cồn (Ethanol).
  2. Mẫu than tro được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3-2006614 nêu trên gửi đi giám định không phát hiện thành phần xăng dầu và cổn (E).

Hoàn trả đối tượng gửi giám định là các mảnh vỡ thủy tỉnh còn lại sau giám định được niêm phong.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 20/BB-HĐĐGTTHS ngày 10/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đã định giá xe mô tô màu xanh, biển số 66P1-460.28, nhãn hiệu LISOHAKA, số máy VLKZS1P53FMH00001339, số khung VLKPCHO221K001339, số loại C110 trị giá 6.203.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự, quá trình điều tra, Đặng Văn M đã tác động bà Võ Thị X là mẹ của M bồi thường thay cho M số tiền 2.000.000 đồng, N đã nhận tiền xong không còn yêu cầu gì thêm và làm đơn xin bãi nại cho M.

Tại Cáo trạng số 08/CT-VKS-HCL ngày 06/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Đặng Văn M về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

  • - Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Văn M phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  • - Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 178; điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Văn M với mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  • - Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 xe mô tô biển số 66P1-460.28 bị cháy có số máy VLKZS1P53FMH00001339, số khung VLKPCHO221K001339; 01 mảnh thủy tinh (mảnh vỡ của chai bia); 01 cây kiếm bằng kim loại màu trắng dài 49cm; 01 dao tự chế dài 97,5cm, lưỡi màu trắng dài 26cm, cán bằng kim loại tròn màu xám dài 71,5 mét đây là các hung khí mà các đối tượng mang theo để đánh nhau (Tài sản không có giá trị sử dụng và vật cấm tàng trữ, lưu hành).

(Hiện vật chứng trên đang được Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh quản lý).

* Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn M trình bày ý kiến thống nhất với luận tội của kiểm sát viên, tuy nhiên, xét về hành vi phạm tội của bị cáo M khi thực hiện tội phạm đang ở độ tuổi chưa thành niên, nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo tuổi đời còn quá trẻ nên khả năng nhận thức còn hạn chế; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không ai tranh luận với quan điểm luận tội của kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày thống nhất với quan điểm luận tội của kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác. Trong giai đoạn điều tra, giữa bị cáo và bị hại cũng đã thỏa thuận bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, bị hại đã nhận tiền xong, không còn yêu cầu gì thêm và đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xét thấy sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các đương sự Nguyễn Văn P, Dương Minh P1, Lê Chí H, Trần Minh S, Nguyễn Hữu L, Nguyễn Chí K, Cao Văn D2, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Tuấn K1, Đinh Châu T1, Dương Nguyễn Hoàng K2Nguyễn Thị B được triệu tập đến phiên tòa với tư cách là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, tại phiên tòa, xét thấy những người này không quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gì trong vụ án nên cần phải sắp xếp tư cách tham gia tố tụng của họ là người làm chứng là mới phù hợp.

[3] Về việc vắng mặt của đương sự và người làm chứng, tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự và người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đặng Văn M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 08/CT-VKSHCL ngày 06/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của các bị cáo. Chính bị cáo đã thực hiện hành vi dùng chai bơm xăng tự đã chế nhặt được ném vào xe mô tô của N, hậu quả chiếc xe mô tô của N bị cháy trơ, chỉ còn lại phần khung sườn xe bằng kim loại, hiện không còn giá trị sử dụng. Bị cáo đã thực hiện hành vi vào khoảng 00 giờ ngày 29/4/2024 tại khu vực ngã ba đường ĐT856 gần cầu K thuộc địa bàn xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Theo kết luận định giá thì tài sản mà bị cáo đã gây thiệt hại cho Nghĩa là 6.203.000 đồng, bị cáo thống nhất và không có ý kiến gì về kết luận định giá.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại nơi xảy ra vụ án.

[6] Khi thực hiện tội phạm mặc dù bị cáo chưa thành niên nhưng bị cáo có khả năng nhận thức hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, giữa bị cáo và người bị hại cũng không có bất kỳ mâu thuẫn nào nhưng bị cáo không biết kiềm chế bản thân nên đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên; chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[7] Lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, vật chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[8] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

[9] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[10] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả xong cho phía gia đình của bị hại; được phía bị hại và gia đình xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[11] Xét thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm như đã nêu trên theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; đồng thời, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn của bị cáo nên cần xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

[12] Về xử lý vật chứng, đối với các vật chứng có trong vụ án bao gồm: 01 (một) xe mô tô biển số 66P1-460.28 bị cháy và bị rỉ sét, số máy VLKZS1P53FM00001339, số khung VLKCHO221K001339; nhiều mảnh vở thủy tinh (Mảnh vỡ của chai bia); 01 cây kiếm bằng kim loại màu trắng dài 49cm; 01 dao tự chế dài 97,5cm, lười dao màu trắng dài 26cm, cán bằng kim loại tròn màu xám dài 71,5cm; đây là các hung khí mà các đối tượng mang theo để đánh nhau, các tài sản không còn giá trị sử dụng và vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần phải tịch thu, tiêu hủy.

[13] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong, bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[14] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo luật định, tuy nhiên, bị cáo là người chưa thành niên nên buộc người đại diện hợp pháp của bị cáo là ông Đặng Văn D và bà Võ Thị X cùng liên đới chịu.

[15] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện C về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[16] Xét ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 178; điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự.
  • Tuyên bố bị cáo Đặng Văn M phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  • Xử phạt bị cáo Đặng Văn M 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Không.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) xe mô tô biển số 66P1-460.28 bị cháy và bị rỉ sét, số máy VLKZS1P53FM00001339, số khung VLKCHO221K001339; nhiều mảnh vở thủy tinh (Mảnh vỡ của chai bia); 01 cây kiếm bằng kim loại màu trắng dài 49cm; 01 dao tự chế dài 97,5cm, lười dao màu trắng dài 26cm, cán bằng kim loại tròn màu xám dài 71,5cm.

(Vật chứng đang được Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/02/2024).

  • - Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Đặng Văn M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, tuy nhiên, bị cáo là người chưa thành niên nên buộc những người đại diện hợp pháp của bị cáo là ông Đặng Văn D và bà Võ Thị X cùng liên đới chịu.

  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với bị hại và các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tông đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Cao Lãnh;
  • - CA huyện Cao Lãnh;
  • - THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Trường Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hủy hoại tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 178; điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Mãi phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Xử phạt bị cáo Đặng Văn Mãi 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger