TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 29/2025/DS -ST Ngày: 26/3/2025 (V/v: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng) | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Viết Sáu.
- Bà Lưu Thị Thôi .
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thái Hà - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thơ – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 431/2024/TLST-DS ngày 23/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-DS ngày 06/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2025/QÐST-DS ngày 04/3/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S - Do bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc đại diện theo pháp luật.
- Địa chỉ trụ sở: 266 - B N, phường H, Quận C, TP Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phan Trọng P, chuyên viên thẻ.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1991.
- Nơi cư trú: tổ D, thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Tại phiên tòa có mặt đại diện nguyên đơn, vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn ông Phan Phan Trọng P trình bày: Ngày 22/9/2023, bà Nguyễn Thị Đ có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B – Phòng G Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng- các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng) đối với số thẻ 472074-7073 theo các nội dung như sau: Hạn mức sử dụng thẻ: 50.000.000 đồng, Mục đích: tiêu dùng, Lãi suất: 2,766%/tháng, có thay đổi theo từng thời kỳ, Lãi suất áp dụng cho khoản Thẻ hiện tại là 2.766%/ tháng. Lãi suất áp dụng đối với nợ quá hạn bằng 150% lãi suất được công bố. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 100.000 đồng, lãi phát sinh là 165.404 đồng, phí phát sinh là 299.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà Nguyễn Thị Đ đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 200.000 đồng. Dư nợ tính đến ngày 26/03/2025 là 364.404 đồng trong đó nợ gốc là 267.220 đồng, nợ lãi trong hạn là 64.790 đồng, nợ lãi quá hạn là 32.394 đồng và bà Nguyễn Thị Đ còn có 01 khoản vay tiêu dùng số thẻ là 211251 - 0088 số tiền 45.000.000 đồng ( dựa trên hạn mức được cấp thẻ tín dụng số 472074-7073). Trong quá trình vay bà Nguyễn Thị Đ đã thanh toán cho Ngân hàng là 7.720.000 đồng, lãi phát sinh là 16.207.648 đồng, phí phát sinh số tiền 480.000 đồng. Dư nợ vay tiêu dùng của khoản này tính đến ngày 26/3/2025 là 59.637.648 đồng trong đó nợ gốc là 43.430.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 10.805.099 đồng, nợ lãi quá hạn 5.402.549 đồng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng bà Nguyễn Thị Đ vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Nguyễn Thị Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngày 05/07/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Nguyễn Thị Đ số thẻ 472074-7073 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 267.220 đồng sang nợ quá hạn và dư nợ này chịu lãi suất quá hạn 4.149%/tháng (2.766%/ tháng x 150%) theo điều 1.36 và 5.7 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngày 25/7/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với số thẻ 211251-0088 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 43.430.000 đồng sang nợ quá hạn và dư nợ này chịu lãi suất quá hạn 4.149%/tháng (2.766%/ tháng x 150%) theo điều 1.36 và 5.7 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Mặc dù, Ngân hàng đã yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà Nguyễn Thị Đ vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Quý Tòa giải quyết các vấn đề sau đây đối với bị đơn:
Buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho Ngân hàng TMCP S bao gồm dư nợ của số thẻ 472074 - 7073 và số thẻ 211251 - 0088 tổng số tiền 60.002.052 đồng (bao gồm khoản thẻ là 364.404 và khoản vay tiêu dùng là 59.637.648), trong đó nợ gốc là 43.697.220 đồng (bao gồm khoản thẻ là 267.220 đồng và khoản vay tiêu dùng là 43.430.000 đồng), nợ lãi trong hạn 10.869.889 đồng (bao gồm khoản thẻ là 64.790 đồng và khoản vay tiêu dùng là 10.805.099 đồng), nợ lãi quá hạn 5.434.943 đồng (bao gồm khoản thẻ là 32.394 đồng và khoản vay tiêu dùng là 5.402.549 đồng) và bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 27/3/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại Hợp đồng. Bị đơn phải chịu tất cả án phí và các chi phí liên quan khác.
*Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ có hộ khẩu thường trú tại tổ D, thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, bà Đ đã nhận các văn bản tố tụng của Toà án nhưng không đến Toà giải quyết.
Tại phiên toà hôm nay vắng mặt bà Nguyễn Thị Đ.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng (nguyên đơn) đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo qui định của pháp luật. Và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: bà Nguyễn Thị Đ có hộ khẩu thường trú tại tổ D, thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị Đ vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ quy định tại điểm b khoản 02 Điều 227 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp nhận thấy:
- - Ngày 22/9/2023, bà Nguyễn Thị Đ có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B – Phòng G Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) đối với số thẻ 472074-7073 theo các nội dung như sau: Hạn mức sử dụng thẻ: 50.000.000 đồng, Mục đích: tiêu dùng, Lãi suất: 2,766%/tháng. Lãi suất áp dụng đối với nợ quá hạn bằng 150% lãi suất được công bố.
- Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 100.000 đồng, lãi phát sinh là 165.404 đồng, phí phát sinh là 299.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà Nguyễn Thị Đ đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 200.000 đồng. Dư nợ tính đến ngày 26/03/2025 là 364.404 đồng, trong đó nợ gốc là 267.220 đồng, nợ lãi trong hạn là 64.790 đồng, nợ lãi quá hạn là 32.394 đồng (số thẻ 472074-7073).
- Trong hạn mức được cấp thẻ tín dụng số thẻ 472074-7073, bà Nguyễn Thị Đ còn có 01 khoản vay tiêu dùng số thẻ là 211251 - 0088 với số tiền 45.000.000 đồng. Trong quá trình vay bà Nguyễn Thị Đ đã thanh toán cho Ngân hàng là 7.720.000 đồng, lãi phát sinh là 16.207.648 đồng, phí phát sinh số tiền 480.000 đồng. Dư nợ vay tiêu dùng tính đến ngày 26/3/2025 là 59.637.648 đồng trong đó nợ gốc là 43.430.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 10.805.099 đồng, nợ lãi quá hạn 5.402.549 đồng.
- Do bà Nguyễn Thị Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngày 05/07/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Nguyễn Thị Đ số thẻ 472074-7073 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 267.220 đồng sang nợ quá hạn và dư nợ này chịu lãi suất quá hạn 4.149%/tháng (2.766%/ tháng x 150%) theo điều 1.36 và 5.7 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngày 25/7/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với số thẻ 211251-0088 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 43.430.000 đồng sang nợ quá hạn và dư nợ này chịu lãi suất quá hạn 4.149%/tháng (2.766%/ tháng x 150%) theo điều 1.36 và 5.7 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Như vậy, tính đến ngày 26/3/2025, bà Đ chưa thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 60.002.052 đồng, trong đó tiền gốc là 43.697.220 đồng và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 26/3/2025 là 10.869.889 đồng (gốc + lãi của thẻ 472074-7073 và thẻ vay tiêu dùng 211251 - 0088).
Xét thấy, bà Đ đã ký vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng kèm theo điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng vào ngày 22/9/2023, tại phần cam kết của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân bà Đ đã xác nhận bà đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân S1, ràng buộc về mặt pháp lý giữa bà với Ngân hàng đơn vị phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, bà chịu trách nhiệm đối với những nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng bà được cấp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, vi phạm hợp đồng quy định tại Điều 1.36, điều 5.7 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kèm theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân đã ký kết với Ngân hàng vào ngày 22/9/2023 nên Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đ phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 60.002.052 đồng và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 26/3/2025 là 10.869.889 đồng và tiền lãi suất phát sinh trên số dư nợ gốc tính từ ngày 27/3/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng là có cơ sở chấp nhận.
Đây là việc vay tiền của tổ chức tín dụng nên lãi suất được áp dụng theo hợp đồng tín dụng giữa hai bên đã ký kết là đúng theo quy định pháp luật.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
- - Điều 463, Điều 466 Bộ Luật dân sự;
- - Điều 91 Luật tổ chức tín dụng;
- - Luật ngân hàng N;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Luật thi hành án dân sự.
2/Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền là 60.002.052 đồng (số thẻ 472074 - 7073 là 364.404 đồng, số thẻ 211251 - 0088 là 59.637.648), Trong đó nợ gốc là 43.697.220 đồng (số thẻ 472074 - 7073 là 267.220 đồng, số thẻ 211251 - 0088 là 43.430.000 đồng), nợ lãi trong hạn là 10.869.889 đồng (số thẻ 472074 - 7073 là 64.790 đồng, số thẻ 211251 - 0088 là 10.805.099 đồng), nợ lãi quá hạn 5.434.943 đồng (số thẻ là 32.394 đồng, số thẻ 211251 - 0088 là 5.402.549 đồng) và tiền lãi suất phát sinh trên số dư nợ gốc tính từ ngày 27/3/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 22/9/2023 kèm theo Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân của ngân hàng TMCP S.
3/Về án phí: bà Nguyễn Thị Đ phải nộp 3.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 1.177.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0002195 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
Án xử công khai có mặt đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/3/2025), của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại chính quyền địa phương nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
|
Bản án số 29/2025/DS -ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Số bản án: 29/2025/DS -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chắp hợp đồng sử dụng thẻ tín đụng
