|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HOÀ BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày: 25 – 3 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Ngọc Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kiều Hoa;
Ông Hà Bá Khiên.
- Thư ký phiên toà: Bà Khà Thị Thanh Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên toà:
Ông Bùi Bảo Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Lường Văn L, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1965, tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: xóm K, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình, nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 8/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Trọng G, sinh năm 1945 và bà Hà Thị Q, sinh năm 1948; bị cáo có vợ là Vì Thị H, sinh năm 1965 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật lần nào; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/12/2024 đến nay. Có mặt.
Bị hại: Anh Hà Công D, sinh năm 1979; nghề nghiệp: lao động tự do và chị Ngần Thị Thanh H1, sinh năm 1985, nghề nghiệp: lao động tự do, cùng địa chỉ: tổ dân phố P, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Anh Hà Công D ủy quyền cho chị Ngần Thị Thanh H1 tham gia tố tụng, theo Văn bản ủy quyền lập ngày 06/11/2024. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Anh Lò Văn T, sinh năm 1973, nghề nghiệp: Trồng trọt, nơi cư trú: xóm K, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt
- - Ông Trần Văn T1, sinh năm 1963, nghề nghiệp: Làm ruộng, nơi cư trú: xóm T, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt
Người làm chứng:
- - Anh Bùi Văn N, sinh năm 1982, nơi cư trú: Xóm T, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt
- - Anh Hà Văn T2, sinh năm 1979, nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt
- - Nguyễn Văn K, sinh năm 1974, nơi cư trú: Xóm T, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/11/2024, Công an xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình tiếp nhận đơn tố giác tội phạm của chị Ngần Thị Thanh H1 về việc: khoảng 14 giờ, ngày 01/11/2024 gia đình chị H1 có nhận được điện thoại từ anh Bùi Văn N về việc tại mảnh đất của gia đình chị H1 ở cạnh hồ K, thuộc xã M, huyện M bị chặt trộm cây. Chị H1 cùng chồng là anh Hà Công D xuống kiểm tra phát hiện bị mất 06 cây lát và 02 cây dổi. Công an xã M tiến hành xác minh sơ bộ phát hiện Lường Văn L là người thực hiện hành vi chặt trộm cây trên. Ngày 08/11/2024, Công an xã M nhận thấy có dấu hiệu tội phạm tiến hành chuyển đơn tố giác cùng hồ sơ, tài liệu cho Cơ quan cánh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Hòa Bình tiến hành điều tra làm rõ vụ việc.
Kết quả điều tra xác định: năm 2021, gia đình chị Ngần Thị Thanh H1 có nhận chuyển nhượng mảnh đất cùng tài sản trên đất của gia đình ông Lường Trọng G, sinh năm 1945 trú tại: xóm K, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vợ chồng ông G ủy quyền cho con trai là Lường Văn L1, sinh năm 1968, trú tại xóm K, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình đứng ra giao dịch thỏa thuận giá, thực hiện thủ tục chuyển nhượng, nhận tiền. Ngày 06/8/2021, sau khi thỏa thuận được giá chuyển nhượng là 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng) thì anh Lưu thông B lại với gia đình và đồng ý chuyển nhượng cho gia đình chị H1, theo đó anh D soạn thảo 01 bản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mang xuống ký xác nhận giữa chị H1, anh D, ông G, bà Hà Thị Q (là vợ ông G) và người chứng kiến là ông Hà Văn D1, sinh năm 1960, trú tại xóm K, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Tối cùng ngày, anh D, chị H1 mang thêm 01 bản hợp đồng nữa xuống gặp đầy đủ thành phần trong gia đình ông G và người chứng kiến là ông D1, tiến hành đọc thông qua hợp đồng với nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho gia đình chị H1 với số tiền 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng), sau đó các thành phần trên đều ký vào bản hợp đồng, ngoài ra Lường Văn L1, Lường Văn L và Lường Văn T3 (là con trai của ông G, bà Q) đều được ký xác nhận việc nhận số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) ngay bên dưới bản hợp đồng này. Từ ngày 06/8/2021 đến ngày 07/12/2022 gia đình chị H1 đã thanh toán toàn bộ số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhà ông G thông qua anh L1, ngoài số tiền thỏa thuận trên gia đình chị H1 còn chuyển thêm 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) là tiền để mua 01 lều trên đất, anh L1 đã nhận đầy đủ số tiền trên. Mỗi lần giao nhận tiền anh L1 đều đồng ý bán tài sản trên đất là 01 lều và cây cối trên đất.
Khoảng cuối tháng 10 năm 2024, do có nhu cầu tìm gỗ để dựng nhà, Lường Văn L đã đi vào khu vực hồ K để tìm gỗ, thấy mảnh đất của gia đình ông G, bà Q đã chuyển nhượng cho gia đình chị H1 không có người trông coi, bên trong có nhiều loại cây cối có gỗ để làm nhà nên L nảy sinh ý định chặt cây. Sau đó, L đến nhà anh Lò Văn T để hỏi mượn 01 cưa máy cầm tay để đi lên rừng lấy cây. Khi mượn được cưa, L về nhà lấy thêm 01 con dao rồi đi vào mảnh đất trên chặt 06 cây lát và 02 cây dổi, sau đó tỉa cành, chia thành 11 lóng/khúc gỗ lát và 10 lóng/khúc gỗ dổi. Do thấy gỗ dổi không đạt tiêu chuẩn dựng nhà nên đã liên hệ và bán cho Trần Văn T1, 10 lóng/khúc gỗ dổi và 02 lóng/khúc gỗ lát với số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Trưa ngày 01/11/2024, T1 nhờ Nguyễn Văn K đi xe vào để lấy gỗ rồi chở về nhà T1. Còn lại 09 lóng/khúc gỗ lát L chưa kịp lấy về nhà thì bị gia đình chị H1 phát hiện và trình báo Công an.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 15/KL-HĐĐG ngày 20/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng), trong đó:
- + 11 (mười một) lóng/khúc gỗ Lát có tổng khối lượng 0,843m³ (không phẩy tám trăm bốn mươi ba mét khối) có giá trị là 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng);
- + 10 (mười) lóng/khúc gỗ Dổi có tổng khối lượng là 0,7m³ (không phẩy bẩy mét khối) có giá trị là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).
Tại Cáo trạng số 22/CT - VKS - HS ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố bị cáo Lường Văn L về tội Trộm cắp tài sản.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết như sau.
Về tội danh, hình phạt: đề nghị tuyên bố bị cáo Lường Văn L phạm tội trộm cắp tài sản. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lường Văn L từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tuổi đã cao, không có việc làm, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 11 lóng/khúc gỗ lát và 10 lóng/khúc gỗ dổi của bị hại là gia đình chị H1 và 01 (một) máy cưa cầm tay là của anh Lò Văn T, xác định anh T không biết và không được tham gia thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng L. Ngày 09/01/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Châu đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại số gỗ trên cho chủ sở hữu là gia đình chị H1, trả loại 01 máy cưa cầm tay cho chủ sở hữu là anh Lò Văn T, là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.
- - Đối với 01 con dao bằng kim loại Lường Văn L dùng để chặt cây, là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự:
- - Quá trình điều tra, gia đình chị H1 và bị cáo đã tự thỏa thuận, Lường Văn L phải trồng lại 200 cây ăn quả các loại, tuy nhiên do khu vực đất nhà chị H1 không có hàng rào bảo vệ nên chị H1 yêu cầu L khi nào gia đình chị xây dựng hệ thống tường rào thì L mới phải trồng cây. Tại phiên Tòa, chị H1 không yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.
- - Lường Văn L đã tự nguyện bồi thường cho anh Trần Văn T1 số tiền 500.000 đồng là số tiền mà L đã bán gỗ cho anh T1, quá trình điều tra và tại phiên tòa anh T1 không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.
- - Về các vấn đề khác: Lò Văn T là người cho L mượn máy cưa, Trần Văn T1 là người mua số gỗ do L trộm cắp, Nguyễn Văn K là người chở số gỗ L bán cho T1 về nhà T1. Quá trình điều tra xác định tất cả những người trên không biết, không được tham gia cùng Lường Văn L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên không có căn cứ xử lý, đề nghị không xét đến.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
Tại phần tranh luận bị cáo, bị hại không có ý kiến gì tranh luận, đồng ý với nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ xác định: khoảng tháng 10 năm 2024, do có nhu cầu tìm gỗ dựng nhà, L đã đi tìm và thấy mảnh đất của gia đình chị Ngần Thị Thanh H1, cạnh hồ K thuộc xóm K, xã M, huyện M, không có người trông coi, trong vườn có nhiều cây có thể lấy gỗ nên đã vào chặt trộm 06 cây gỗ lát và 02 cây gỗ dổi chia được 11 lóng/khúc gỗ lát, trị giá 1.600.000 đồng và 10 lóng/khúc gỗ dổi, trị giá 1.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị xâm hại là 3.100.000 đồng. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Lường Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã viện dẫn, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội, mà tạo điều kiện cho bị cáo làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và tại gia đình với thời gian thử thách nhất định cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung, đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do đó áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, cho bị cáo Lường Văn L hưởng án treo.
[5] Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng và các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[7] Về án phí: Bị cáo Lường Văn L phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh, hình phạt:
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Tuyên bố bị cáo Lường Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lường Văn L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án
Giao bị cáo Lường Văn L cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại dài 0,46 m, chuôi gỗ, cũ đã qua sử dụng.
(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm cụ thể của các vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 25/THA ngày 14/02/2025 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).
Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lường Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Đào Ngọc Tiến |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HOÀ BÌNH về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HOÀ BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lường Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản. xử phạt bị cáo Lường Văn L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án