|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày: 25/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Túy.
Ông Phạm Văn Hiệu.
- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiên Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025. Tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 23/01/2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 10/02/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q, sinh năm 1991, tại tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: Khu B, TDP P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị T; có vợ là Lưu Thị N và 02 con; con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/12/2024 (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Tất cả vắng mặt)
- Ông Đoàn Văn K, sinh năm 1977; trú tại: Khu Đ, phường Á, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Anh Hoàng Văn Q1, sinh năm 1984; trú tại: Thôn Đ, xã N, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Chị Vũ Thị T1, sinh năm 1997; trú tại: Thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- Chị Phạm Thị D, sinh năm 2002; trú tại: Thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- Ông Phạm Quang L, sinh năm 1977; trú tại: Số A, đường N, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
- Anh Nguyễn Hữu C, sinh năm 1983; trú tại: TDP L, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Q, sinh năm 1991, trú tại Khu B, tổ dân phố P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, là chủ cửa hàng "Việt M" kinh doanh điện thoại di động và mua bán xe môtô. Từ năm 2023 đến ngày 05/12/2024, Q lợi dụng nhu cầu vay tiền của khách để cho vay với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu đồng/ngày, tương đương 109,5%/năm, vượt 5,475 lần mức lãi suất tối đa theo Điều 468 BLDS. Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán và che giấu hành vi, Q yêu cầu người vay thế chấp xe môtô kèm giấy tờ xe, ký tên vào "Giấy bán xe" nhưng để trống thông tin. Q theo dõi khoản vay qua sổ ghi chép.
Kết quả điều tra xác định từ ngày 05/12/2023 đến 05/12/2024, Q đã cho 05 người vay tổng 183.000.000 đồng, số tiền lãi bất hợp pháp theo thỏa thuận là 48.453.316 đồng, thực tế đã thu 35.190.000 đồng, hưởng lợi 27.882.603 đồng. Trong đó:
- Ông Đoàn Văn K: Ngày vay 08/10/2024; tiền cho vay gốc 35.000.000 đồng; thế chấp xe Honda SH Mode; tiền lãi theo thỏa thuận 4.872.671 đồng; tiền Q thu lãi thực tế 3.150.000 đồng; tiền lãi hợp pháp đến 20% 1.112.329 đồng; tiền lãi bất hợp pháp trên 20% 2.037.671 đồng.
- Anh Hoàng Văn Q1: Ngày vay 04/10/2024; tiền cho vay gốc 43.000.000 đồng; thế chấp xe Honda SH 125i; tiền lãi theo thỏa thuận 6.408.178 đồng; tiền Q thu lãi thực tế 7.740.000 đồng; tiền lãi hợp pháp đến 20% 1.460.822 đồng; tiền lãi bất hợp pháp trên 20% 6.279.178 đồng.
- Chị Vũ Thị T1: Ngày vay 26/09/2024; tiền cho vay gốc 45.000.000 đồng; thế chấp xe Honda SH Mode; tiền lãi theo thỏa thuận 7.588.973 đồng; tiền Q thu lãi thực tế 8.100.000 đồng; tiền lãi hợp pháp đến 20% 1.726.027 đồng; tiền lãi bất hợp pháp trên 20% 6.373.973 đồng.
- Chị Phạm Thị D: Ngày vay 06/11/2024; tiền cho vay gốc 45.000.000 đồng; thế chấp xe Honda SH 125i; tiền lãi theo thỏa thuận 3.199.932 đồng; tiền Q thu lãi thực tế 0 đồng; tiền lãi hợp pháp đến 20% 715.068 đồng; tiền lãi bất hợp pháp trên 20% 3.199.932 đồng.
- Ông Phạm Quang L: Ngày vay 05/12/2023; tiền cho vay gốc 15.000.000 đồng (phần Q góp vào); không thế chấp tài sản; tiền lãi theo thỏa thuận 26.383.562 đồng; tiền Q thu lãi thực tế 16.200.000 đồng; tiền lãi hợp pháp đến 20% 6.016.438 đồng; tiền lãi bất hợp pháp trên 20% 13.191.781 đồng.
Ngoài ra, ngày 19/10/2024, Q cho anh Nguyễn Hữu C vay 10.000.000 đồng với lãi suất 500 đồng/1triệu/ngày (tương đương 18,25%/năm, hợp pháp theo Điều 468 BLDS). Anh C thế chấp xe HONDA WAVE ALPHA, chưa trả gốc và lãi.
Ngày 05/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H khám xét khẩn cấp chỗ ở và nơi làm việc của Q, không thu giữ tài liệu, tài sản gì. Q tự nguyện giao nộp 06 xe môtô thế chấp của người vay cùng đăng ký xe, 01 xe do L1 gửi, 04 giấy bán xe chưa điền thông tin, 01 giấy bán xe biển số 89AT-002.15 và 01 quyển sổ ghi chép khoản vay. Kết quả giám định xác định chữ viết trong sổ do chính Q viết.
Hành vi cho vay lãi nặng của Nguyễn Thành L1 đã được xem xét xử lý tại vụ án khác.
Cơ quan điều tra đã trả lại 06 xe cho chủ sở hữu. Những người vay xác nhận sử dụng tiền vào mục đích hợp pháp, không yêu cầu Q hoàn trả số tiền lãi đã đóng. Trong quá trình điều tra, Q thành khẩn khai báo, lời khai phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ.
Cáo trạng số 36/CT-VKS-P3 ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo: Nguyễn Văn Q về tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung từ 40.000.000 đến 50.000.000 đồng.
Ngoài ra VKS còn đề nghị về các biện pháp tư pháp và án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của Đại diện viện kiểm sát đồng thời đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cùng những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra đến phiên tòa sơ thẩm được xác định là hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định: Từ năm 2023 đến ngày 05/12/2024, tại Tổ dân phố P, phường B, thị xã M, Nguyễn Văn Q đã cho 05 người vay tổng 183.000.000 đồng với lãi suất vượt 5,475 lần mức lãi suất tối đa theo Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Kết quả điều tra xác định từ ngày 05/12/2023 đến 05/12/2024, số tiền lãi Nguyễn Văn Q đã thu được là 35.190.000 đồng, trong đó: tiền lãi đến 20% là 7.307.397 đồng; tiền lãi vượt quá 20% là 27.882.603 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Q đã cấu thành tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, đồng thời xâm phạm lợi ích hợp pháp của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[5]. Về hình phạt: Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Bị cáo phạm tội vì động cơ vụ lợi nhưng không có hành vi sử dụng bạo lực hay đe dọa cưỡng ép trong quá trình cho vay. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự, nhằm tạo điều kiện để bị cáo tiếp tục lao động, sửa chữa sai lầm, nhưng vẫn đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có điều kiện kinh tế ổn định, có khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 40.000.000 đồng để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
[6]. Về biện pháp tư pháp:
6.1. Đối với 04 giấy bán xe chưa điền thông tin, 01 quyển sổ ghi chép khoản vay, Cơ quan điều tra đã thu giữ trong quá trình điều tra là những vật chứng chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án.
6.2. Đối với 06 xe môtô thế chấp của người vay cùng đăng ký xe, 01 xe do L1 gửi, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã làm rõ chủ sở hữu và trả lại toàn bộ số xe mô tô cùng giấy tờ xe cho các chủ sở hữu.
6.3. Đối với số tiền gốc: Tổng số tiền gốc bị cáo Nguyễn Văn Q đã cho vay là 183.000.000 đồng (những người vay đều chưa trả cho Q). Đây là khoản tiền được xác định là phương tiện phạm tội nên cần truy thu của những cá nhân vay tiền để sung ngân sách nhà nước. Cụ thể:
- Đoàn Văn K: 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
- Hoàng Văn Q1: 43.000.000 đồng (Bốn mươi ba triệu đồng).
- Vũ Thị T1: 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
- Phạm Thị D: 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
- Phạm Quang L: 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
6.4. Đối với tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%): Nguyễn Văn Q đã thu được là 7.307.397 đồng (trong đó thu lãi từ Đoàn Văn K: 1.112.329 đồng; Hoàng Văn Q1: 1.460.822 đồng; Vũ Thị T1: 1.726.027 đồng; Phạm Thị D: Chưa trả lãi; Phạm Quang L: 3.008.219 đồng). Đây là khoản tiền do phạm tội mà có, cần truy thu từ bị cáo để sung ngân sách nhà nước.
6.5. Đối với tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%): Nguyễn Văn Q thu được là 27.882.603 đồng. Đây là tài sản thuộc sở hữu của những người vay bị chiếm đoạt, những người này không có yêu cầu gì đối với bị cáo Q nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".
[2]. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thị xã M, tỉnh Hưng Yên nhận được Bản án và Quyết định Thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho Ủy ban nhân dân phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục.
Xử phạt bổ sung bị cáo 40.000.000 (Bốn mươi triệu đồng).
[3]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước của bị cáo và các cá nhân sau:
- Bị cáo Nguyễn Văn Q, số tiền là 7.307.397 đồng (Bảy triệu ba trăm không bảy nghìn, ba trăm chín bảy đồng).
- Ông Đoàn Văn K, sinh năm 1977, trú tại Khu Đ, phường Á, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Số tiền là 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
- Anh Hoàng Văn Q1, sinh năm 1984, trú tại Thôn Đ, xã N, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Số tiền là 43.000.000 đồng (Bốn mươi ba triệu đồng).
- Chị Vũ Thị T1, sinh năm 1997, trú tại Thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Số tiền là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
- Chị Phạm Thị D, sinh năm 2002, trú tại Thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Số tiền là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
- Ông Phạm Quang L, sinh năm 1977, trú tại Số A, đường N, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
Về vật chứng: Lưu tại hồ sơ vụ án: 04 giấy bán xe chưa điền thông tin, 01 quyển sổ ghi chép khoản vay.
[4]. Về án phí: Bị cáo phải chịu: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận: Vụ GĐKT 1 -TAND tối cao; VKSND cấp cao tại Hà Nội; VKSND tỉnh Hưng Yên; Cơ quan CSĐT CA tỉnh Hưng Yên; Phòng HSNV CA tỉnh Hưng Yên; Cục THADS tỉnh Hưng Yên; Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; Lưu HSVA, VP, THS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phượng |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ năm 2023 đến ngày 05/12/2024, tại Tổ dân phố P, phường B, thị xã M, Nguyễn Văn Q đã cho 05 người vay tổng 183.000.000 đồng với lãi suất vượt 5,475 lần mức lãi suất tối đa theo Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Kết quả điều tra xác định từ ngày 05/12/2023 đến 05/12/2024, số tiền lãi Nguyễn Văn Q đã thu được là 35.190.000 đồng, trong đó: tiền lãi đến 20% là 7.307.397 đồng; tiền lãi vượt quá 20% là 27.882.603 đồng.
