Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LƯƠNG TÀI

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 29/2025/KDTM-ST

Ngày: 25/06/2025

“T/C Hợp đồng tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hãnh.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Minh; ông Nguyễn Xuân Quốc.
  • - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Đỗ Duy Khải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Tài.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tá Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Tài mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 59/2024/TLST-DS, ngày 13/11/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-DS, ngày 13/05/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2025/QĐHPT-DS, ngày 12/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, giữa các đương sự.

* Nguyên đơn: Công ty cổ phần M.

Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.

  • - Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T - Chức vụ Giám đốc.
  • - Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Duy T1 - Trưởng phòng xử lý nợ khu vực miền bắc.
  • - Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Chí T2 - Chuyên viên xử lý nợ (Có mặt).

* Bị đơn: 1. Bà Phạm Thị H, sinh năm: 1989. 2. Ông Hoàng Văn T3, sinh năm 1986 (Cùng vắng mặt).

Cùng có nơi cư trú: Khu phố Đ (Thôn Đ cũ), Thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa và lời khai tiếp theo tại Tòa án của nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí T2 trình bày: Ông có CCCD số: [...] do Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 21/11/2022 - Chuyên viên xử lý nợ của công ty cổ phần M, là đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần M thực hiện thủ tục khởi kiện Bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3 ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết yêu cầu đòi nợ giữa Công ty cổ phần M với bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3 như sau: Theo (các) Hợp đồng tín dụng đã ký giữa V với bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3 đã vay của Ngân hàng TMCP V1 (V) tổng số tiền: 1.720.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm hai mươi triệu đồng) cụ thể theo Hợp đồng cho vay số: LN 2208176528039 ngày 19/08/2022.

  • * Tài sản bảo đảm cho khoản tiền vay số 01 là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 1382 tờ bản đồ số: 04 có địa chỉ: Xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Theo “Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DD 648449, Số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: CH 00057 do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16/03/2022, Ngày 14/07/2022 tại Văn phòng Đ - Chi nhánh V2 ký đất đai huyện N đã đăng ký sang tên cho ông Hoàng Văn T3 và bà Phạm Thị H.
  • * Tài sản bảo đảm số 02 là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 1381 tờ bản đồ số: 04 có địa chỉ: Xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Theo “Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DD 648448, Số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: CH 00058 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 16/03/2022, Ngày 14/07/2022 tại Văn phòng Đ - Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N đã đăng ký sang tên cho ông Hoàng Văn T3 và bà Phạm Thị H.

Từ ngày 30/12/2023, V đã tiến hành bán (các) khoản nợ của Bà Phạm Thị H và Ông Hoàng Văn T3 sang cho Công ty TNHH MTV M (nay là Công ty Cổ phần M - gọi tắt là Công ty M) theo Hợp đồng mua bán nợ số 03/2023/VPB - MARS và Phụ lục đính kèm ký giữa V với Công ty M. Theo đó, V đồng ý bán và Công ty M đồng ý mua (các) khoản nợ của bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3, bao gồm (các) khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo (các) Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà Bà Phạm Thị H và Ông Hoàng Văn T3 đã ký kết với V. Đồng thời, V đã chuyển giao quyền chủ nợ và Công Ty CP M kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của V đối với (các) khoản nợ đã mua và quyền đối với (các) tài sản bảo đảm liên quan đến khoản nợ của bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ (các) khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn. Quá trình xử lý khoản vay, V và sau này là Công Ty CP M đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3 thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay cho V tuy nhiên bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3 không thực hiện.

Vì các lẽ trên, Công ty CP M đề nghị Tòa án giải quyết các nội dung sau: Đề nghị HĐXX buộc bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3 phải có nghia vụ thanh toán trả cho Công ty CP M tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/06/2025 là ngày xét xử với tổng số tiền nợ gốc là 1.720.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 37.992.968 đồng, lãi quá hạn là 588.448.816 đồng, lãi chậm trả là 7.400.822 đồng. Tổng cộng buộc ông bà có nghĩa vụ trả nợ cho công ty là 2.353.842.606 đồng.

Đề nghị Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong (các) Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ (nếu có) và văn bản tín dụng của khoản vay cho đến ngày bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3 thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty CP M. Ngoài ra Công ty cổ phần M không có ý kiến bổ sung nào khác.

* Bị đơn là: bà Phạm Thị H, ông Hoàng Văn T3 vắng mặt tại phiên tòa HĐXX công bố toàn văn bản tự khai như sau: Do cần tiền làm ăn nên vợ chồng ông bà có vay Ngân hàng TMCP V1 - Chi nhánh H2 số tiền: 1.720.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm hai mươi triệu đồng). Cụ thể chi tiết theo hợp đồng cho vay hạn mức số: LN2208176528039 ngày 19/08/2022. (mục đích vay trong hợp đồng tín dụng là để bổ sung vốn kinh doanh quần áo, hàng may mặc các loại nhưng không có giấy phép kinh doanh). Để đảm bảo cho khoản vay trên, vợ chồng ông bà có thế chấp các tài sản để đảm bảo cho khoản vay như sau:

  1. Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 1381, tờ bản đồ số: 04, địa chỉ xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DD648448, do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16/03/2022, ngày 14/7/2022, thửa đất trên mang tên vợ chồng ông bà tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 1382, tờ bản đồ số: 04, địa chỉ xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DD648449, do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16/3/2022, thửa đất này đã được mang tên vợ chồng ông bà tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Ngoài ra vợ chồng ông bà cũng đồng ý rằng, toàn bộ quyền, lợi ích phát sinh hoặc có liên quan tới tài sản thế chấp mà bên thế chấp được hưởng hoặc có thể được hưởng đều thuộc tài sản thế chấp. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số: LN2208176528039 ngày 19/8/2022 tại Văn phòng C.

Do kinh tế gặp nhiều khó khăn nên vợ chồng ông bà chưa có điều kiện trả nợ cho Ngân hàng, sau đó thì vợ chồng ông bà được biết V đã bán khoản nợ trên cho Công ty cổ phần M nên Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu vợ chồng ông bà trả nợ đối với khoản vay của vợ chồng. Về việc mua bán nợ giữa V và Công ty cổ phần M thì vợ chồng ông bà không hiểu biết về việc mua bán nợ nên ông bà không có ý kiến gì, miễn là đúng với các quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông bà là ông bà nhất trí. Nay với yêu cầu khởi kiện của phía Công ty Cổ phần M yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông bà có nghĩa vụ trả nợ tổng số tiền tiền tạm tính đến ngày 17/02/2025 là: 2.313.353.360 đồng. Trong đó

nợ gốc là 1.720.000.000 đồng, nợ lãi là 517.896.729 đồng, nợ lãi chậm trả là 75.483.631 đồng và các yêu cầu khác trong đơn khởi kiện thì quan điểm của vợ chồng ông bà hoàn toàn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M, ông bà sẽ có nghĩa vụ trả nợ cho công ty cổ phần M số tiền trên, nếu vợ chồng ông bà không trả được, thì Công ty cổ phần M có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp mà vợ chồng ông bà đã ký kết với Ngân hàng V. Ông bà xin cam đoan những lời khai trên là đúng sự thật, nếu sai ông bà xin chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ngoài ra ông bà không có ý kiến bổ sung nào khác.

* Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Lương Tài phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán, HĐXX chấp hành đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS như: Cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình và viết bản tự khai; đã nộp tiền tạm ứng án phí theo đúng quy định; chấp hành các quyết định của Tòa án trong thời gian giải quyết vụ án; Tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải do Toà án tiến hành.

Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS như: Chấp hành các quyết định của Tòa án trong thời gian giải quyết vụ án; Tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải do Toà án tiến hành, cũng như vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 1 và lần thứ 2 không có lý do chính đáng.

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Căn cứ các Điều 323, 463, 466 và 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ các Điều 99; Điều 100 và Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

* Đề nghị tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M.

Buộc bà Phạm Thị H, ông Hoàng Văn T3 cùng có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Công ty cổ phần M số tiền tạm tính đến ngày 25/6/2025 nợ gốc là 1.720.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 37.992.968 đồng, lãi quá hạn là 588.448.816 đồng, lãi chậm trả là 7.400.822 đồng. Tổng cộng buộc ông bà có nghĩa vụ trả nợ cho công ty là 2.353.842.606 đồng.

Kể từ ngày 26/6/2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Phạm Thị H, ông Hoàng Văn T3 phải tiếp tục chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số LN2208176528039 ngày 19/08/2022 và các văn bản sửa đổi bổ sung kèm theo (nếu có).

Trường hợp bà H ông T3 không thực hiện được hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần M có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, bán tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Tài sản bảo đảm là:

  1. Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 1381, tờ bản đồ số: 04, địa chỉ xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DD648448, do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16/03/2022, ngày 14/7/2022, thửa đất trên mang tên vợ chồng ông bà tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 1382, tờ bản đồ số: 04, địa chỉ xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DD648449, do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16/3/2022, thửa đất này đã được mang tên vợ chồng ông bà tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, tỉnh Thanh Hóa và Toàn bộ Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 1381 tờ bản đồ số: 04 có địa chỉ thửa đất nằm tại: Xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DD 648448, Số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: CH00058 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 16/03/2022, Ngày 14/07/2022 tại Văn phòng Đ - Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N đã đăng ký sang tên cho ông Hoàng Văn T3 và bà Phạm Thị H” Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số: LN2208176528039, số công chứng 9576, quyển số: 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 19/08/2022.

Trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, Công ty CP M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác của bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty CP M cho đến khi thực tế trả hết (các) khoản nợ.

Trong trường hợp tài sản bị xử lý để thu hồi nợ, tất cả những người đang trực tiếp sinh sống, quản lý, sử dụng tài sản công trình kiến trúc trên thửa đất nêu trên phải có nghĩa vụ bàn giao lại toàn bộ tài sản bảo đảm cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đảm bảo thi hành án theo Luật thi hành án dân sự. Mọi tranh chấp phát sinh từ việc thuê nhà hoặc các giao dịch khác có liên quan đến tài sản bảo đảm được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Số tiền thu được sau khi phá mại tài sản nếu không đủ để trả nợ cho Công ty cổ phần M thì bà H ông T3 có trách nhiệm tiếp tục trả nợ cho đến khi thanh toán đủ số nợ cho Công ty cổ phần M, trường hợp còn dư thì trả lại cho bà H ông T3.

Trường hợp bà H ông T3 trả hết nợ cho Công ty CP M, thì Công ty CP M phải có nghĩa vụ giải chấp tài sản bảo đảm và trả lại toàn bộ bản chính giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3.

Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Bà H ông T3 phải chịu 25.000.000đ tiền chi phí, xem xét, thẩm định tại chỗ 02 thửa đất tại Xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; và có trách nhiệm hoàn trả lại cho Công ty CP M số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là 25.000.000 đồng. Xác nhận công ty cổ phần M đã nộp đủ 25.000.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Hội đồng xét xử xác định về quan hệ tranh chấp là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Căn cứ theo hợp đồng vay vốn của bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3 vay tổ chức tín dụng là Ngân hàng TMCP V1 (V) số tiền gốc ban đầu là 1.720.000.000 đồng; mục đích vay trong hợp đồng tín dụng là để bổ sung vốn kinh doanh quần áo, hàng may mặc các loại nhưng có lợi nhuận; do vậy vụ án này được xác định là vụ án “Kinh doanh thương mại”. Bị đơn là bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3 có nơi cư trú tại khu phố Đ (Thôn Đ cũ), Thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; nên nguyên đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân huyện Lương Tài thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành gửi thông báo thụ lý vụ án, tống đạt các giấy báo làm việc tại Tòa, văn bản tố tụng về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị H1 ông Nguyễn văn T4 không đến Tòa án để tham gia các thủ tục tố tụng mà Tòa án tiến hành. Do đó Tòa án chỉ lấy được ý kiến trình bày về nội dung của việc vay vốn của bà H1 ông T4 đối với Ngân hàng V1 (V).

Bị đơn là bà H1 ông T4 vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nhưng không có lý do chính đáng mặc dù đã được Tòa án niêm yết hợp lệ. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định như sau:

Về hợp đồng tín dụng: Xét thấy Hợp đồng tín dụng số: 2608-LAV-202201160 ngày 23/08/2022, Tài sản bảo đảm là:

  1. Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 1381, tờ bản đồ số: 04, địa chỉ xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DD648448, do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16/03/2022, ngày 14/7/2022, thửa đất trên mang tên vợ chồng tôi tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 1382, tờ bản đồ số: 04, địa chỉ xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DD648449, do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16/3/2022, thửa đất này đã được mang tên vợ chồng ông bà tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, tỉnh Thanh Hóa và Toàn bộ Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 1381 tờ bản đồ số: 04 có địa chỉ thửa đất nằm tại: Xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Theo “Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DD 648448, Số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: CH00058 do Ủy ban nhândân huyện N tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16/03/2022, Ngày 14/07/2022 tại Văn phòng Đ - Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N đã đăng ký sang tên cho ông Hoàng Văn T3 và bà Phạm Thị H”. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số: LN2208176528039, số công chứng 9576, quyển số: 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 19/08/2022.

Xét quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng thì thấy: Ngân hàng V1 (V) đã tiến hành giải ngân số tiền 1.720.000.000 đồng được thể hiện tại Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng Ngân hàng TMCP V1 (V) và công ty M đã thông báo trước kỳ hạn trả gốc của khoản vay, đã đến làm việc và đôn đốc rất nhiều lần nhưng bà H ông T3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mặc dù đã cam kết trả nợ nhưng không đúng hẹn và có biểu hiện chây ì, không chịu trả nợ cho Công ty cổ phần M, tính đến ngày 25/6/2025, bà H ông T3 mới thanh toán được cho Công ty cổ phần M số tiền là 143.526.419 đồng. Do đó Công ty cổ phần M khởi kiện yêu cầu bà H ông T3 thanh toán số tiền còn nợ cho công ty, tạm tính đến ngày 25/6/2025 là ngày xét xử sơ thẩm thì bà H ông T3 còn nợ gốc là 1.720.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 37.992.968 đồng, lãi quá hạn là 588.448.816 đồng, lãi chậm trả là 7.400.822 đồng. Tổng cộng buộc ông bà có nghĩa vụ trả nợ cho công ty là 2.353.842.606 đồng.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cùng các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cùng lời khai của bà H ông T3 cũng như diễn biến tại phiên tòa hôm nay; HĐXX xét thấy lời yêu cầu của Công ty cổ phần M yêu cầu hoàn toàn có căn cứ pháp lý và được HĐXX chấp nhận: Cần buộc bà Phạm Thị H và ông Hoàng Văn T3 cùng có nghĩa vụ phải trả nợ cho Công ty cổ phần M số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25/6/2025 nợ gốc là 1.720.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 37.992.968 đồng, lãi quá hạn là 588.448.816 đồng, lãi chậm trả là 7.400.822 đồng. Tổng cộng buộc bà H ông T3 cùng có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M là 2.353.842.606 đồng.

Trong trường hợp tài sản bị xử lý để thu hồi nợ, tất cả những người đang trực tiếp sinh sống, quản lý, sử dụng tài sản công trình kiến trúc trên thửa đất nêu trên phải có nghĩa vụ bàn giao lại toàn bộ tài sản bảo đảm cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đảm bảo thi hành án theo Luật thi hành án dân sự. Mọi tranh chấp phát sinh từ việc thuê nhà hoặc các giao dịch khác có liên quan đến tài sản bảo đảm được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật. Hợp đồng thế chấp đã được chứng thực của cơ quan công chứng và đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng của quy định tại các Điều 317, 323 Bộ luật dân sự. Do vậy giao dịch này là hợp pháp, bắt buộc các bên tham gia ký kết phải thực hiện. Từ đó cần chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của nguyên đơn trong trường hợp bị đơn không trả được nợ cho nguyên đơn, tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 1382, tờ bản đồ số: 04, địa chỉ xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DD648449, do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16/3/2022, thửa đất này đã được mang tên vợ chồng ông bà tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Và toàn bộ Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 1381 tờ bản đồ số: 04 có địa chỉ thửa đất nằm tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Theo “Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DD 648448, Số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: CH00058 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 16/03/2022, Ngày 14/07/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N đã đăng ký sang tên cho ông Hoàng Văn T3 và bà Phạm Thị H”. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số: LN2208176528039, số công chứng 9576, quyển số: 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 19/08/2022.

Buộc bà H ông T3 phải tiếp tục trả tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn cho Công ty cổ phần M theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức trên số nợ gốc thực tế kể từ ngày 26/6/2025 cho đến khi trả xong khoản nợ cho Công ty cổ phần M.

Trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, Công ty CP M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác của Bà Phạm Thị H và Ông Hoàng Văn T3 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty CP M cho đến khi thực tế trả hết các khoản nợ.

[3] Về chi phí tố tụng: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận; nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Bà H ông T3 phải chịu 25.000.000₫ tiền chi phí, xem xét, thẩm định tại chỗ tại 02 thửa đất nằm tại Xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; và có trách nhiệm hoàn trả lại cho Công ty CP M số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là 25.000.000 đồng. Xác nhận công ty cổ phần M đã nộp đủ 25.000.000đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

[4] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí; Bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Căn cứ các Điều 323, 463, 466 và 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ các Điều 99; Điều 100 và Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M.

Buộc bà Phạm Thị H ông Hoàng Văn T3 cùng có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M tính đến ngày 25/6/2025 (Là ngày xét xử sơ thẩm) với số tiền nợ gốc là 1.720.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 37.992.968 đồng, lãi quá hạn là 588.448.816 đồng, lãi chậm trả là 7.400.822 đồng. Tổng cộng nợ gốc cùng lãi suất là 2.353.842.606 đồng (Hai tỷ, ba trăm lăm mươi ba triệu, tám trăm bốn mươi hai ngàn, sáu trăm linh sáu đồng).

Kể từ ngày 26/06/2025 cho đến khi thi hành án xong, bà H ông T3 phải tiếp tục chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số LN2208176528039 ngày 19/08/2022 và các văn bản sửa đổi bổ sung kèm theo (nếu có).

Trường hợp bà Phạm Thị H ông Hoàng Văn T3 không thực hiện được hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần M có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, bán tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Tài sản bảo đảm là:

  1. Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 1381, tờ bản đồ số: 04, địa chỉ xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DD648448, do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16/03/2022, ngày 14/7/2022, thửa đất trên mang tên vợ chồng tôi tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 1382, tờ bản đồ số: 04, địa chỉ xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DD648449, do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16/3/2022, thửa đất này đã được mang tên vợ chồng ông bà tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, tỉnh Thanh Hóa; và Toàn bộ Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 1381 tờ bản đồ số: 04 có địa chỉ thửa đất nằm tại: Xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Theo “Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DD 648448, Số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: CH00058 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 16/03/2022, Ngày 14/07/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N đã đăng ký sang tên cho ông Hoàng Văn T3 và bà Phạm Thị H”. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số: LN2208176528039, số công chứng 9576, quyển số: 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 19/08/2022.

Số tiền thu được sau khi phá mại tài sản nếu không đủ để trả nợ cho công ty thì bà H ông T3 có trách nhiệm tiếp tục trả nợ cho đến khi thanh toán đủ số nợ cho công ty, trường hợp còn dư thì trả lại cho bà H ông T3.

Trường hợp bà H ông T3 trả hết nợ cho công ty thì công ty phải có nghĩa vụ giải chấp tài sản bảo đảm và trả lại toàn bộ bản chính giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho bà H ông T3.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

* Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bà Phạm Thị H ông Hoàng Văn T3 cùng có nghĩa vụ phải nộp là 79.076.852 đồng (Bẩy mươi chín triệu, không trăm bẩy mươi sáu ngàn, tám trăm năm mươi hai đồng).

Hoàn trả lại cho công ty M số tiền tạm ứng án phí mà công ty đã nộp là 30.000.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0001287, ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.

* Về chi phí tố tụng: Buộc bà Phạm Thị H ông Hoàng Văn T3 phải chịu 25.000.000 đồng tiền xem xét thẩm định tại chỗ tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Xác nhận công ty cổ phần M đã nộp tạm ứng trước là 25.000.000đồng tiền chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ. Buộc bà H ông T3 có nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty cổ phần M số tiền là 25.000.000 đồng.

* Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án hoặc niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND huyện Lương Tài;
  • - Chi cục THADS huyệnLương Tài;
  • - Đươngsự;
  • - Lưu hs.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Hãnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/KDTM-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 29/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các đương sự không thỏa thuận được
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger