Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 29/2025/KDTM - PT

Ngày: 22-10-2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Túc

Bà Hoàng Ngọc Liễu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng -Thư ký TAND tỉnh Phú Thọ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà:

Ông Lê Quý Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 22/10/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ - cơ sở 3, đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 15/2025/TLPT – KDTM ngày 31 tháng 7 năm 2025 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng ".

Do có kháng cáo của bị đơn bà Trương Thị Thanh T; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Quốc C và bà Nguyễn Thị T1; ông Phan Thế N và bà Nguyễn Thị D đối với bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2025/KDTM - ST ngày 19/6/2025 của Toà án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình ( nay là Toà án nhân dân khu vực 12- Phú Thọ)

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐ - PT ngày 27 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa lần 1 ngày 19/9/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa lần 2 ngày 29/9/2025; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần C2; địa chỉ: Số A đường T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường C, thành phố Hà Nội).

Người đại diện theo ủy quyền : Ông Nguyễn Quốc H (Phó giám đốc), ông Lương Việt C1 (Trưởng phòng) Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh H1; địa chỉ: A, đường C, phường H, tỉnh Phú Thọ. (Theo văn bản ủy quyền số 652/UQ-HĐQT –NHCT- PCTT3 ngày 25/6/2024 của Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP C2 và văn bản ủy quyền lại số 435/UQ-CNHB-TCTH ngày 06/9/2024 của Giám đốc Ngân hàng TMCP C2 – Chi nhánh H1); ông Lương Việt C1 có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn:

Bà Trương Thị Thanh T - Chủ hộ kinh doanh Nhà thuốc T4; địa chỉ: SN D, đường N, tổ A, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (nay là phường H, tỉnh Phú Thọ). SĐT: 0915.578.xxx.

Bà Trương Thị Thanh T, sinh năm 1972 và ông Vũ Văn L, sinh năm 1965. Cùng địa chỉ: SN D, đường N, tổ A, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình ( nay là phường H, tỉnh Phú Thọ)

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Trương Quốc C, sinh năm 1946; bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1952; chị Trương Thị Phương A, sinh năm 1991; cùng địa chỉ: tổ A, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình ( nay là phường H, tỉnh Phú Thọ) SĐT: 0352.551.xxx
  • Ông Phan Thế N, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1963; Cùng địa chỉ: SN A, ngách A, đường N, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. ( nay là phường T, tỉnh Hưng Yên) SĐT: 0358.862.xxx

Người kháng cáo: Bị đơn bà Trương Thị Thanh T; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Quốc C; bà Nguyễn Thị T1; Ông Phan Thế N và bà Nguyễn Thị D.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa, chị Phương A vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP C2 trình bày:

Ngân hàng TMCP C2 (sau đây gọi tắt là V) và bà Trương Thị Thanh T có ký kết các hợp đồng tín dụng sau

  • Hợp đồng cho vay số 01: Ngày 07/5/2018, V và bà Trương Thị Thanh T ký Hợp đồng cho vay số [...]/2018-HĐCV/NHCT250, số tiền 1,7 tỷ đồng; mục đích vay: nhận chuyển nhượng QSDĐ và nhà ở gắn liền với đất phục vụ mục đích để ở, phục vụ đời sống; thời hạn vay là 216 tháng; lãi suất thể hiện trên từng giấy nhận nợ, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Ngày 07/5/2018, Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền trên cho bà T thể hiện trên 01 giấy nhận nợ với lãi suất cho vay là 10,5%/năm, thả nổi, điều chỉnh 01 tháng/lần. Lãi suất khuyến mại là 8,0%/năm, thời gian khuyến mại 12 tháng kể từ ngày giải ngân.
  • Quá trình thực hiện hợp đồng, người vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, khoản vay chuyển quá hạn từ ngày 25/3/2024. Tính đến ngày 19/6/2025, dư nợ của khoản vay này là 1.300.914.697 đồng, trong đó gốc 1.129.800.000 đồng, lãi 171.114.697 đồng.
  • Hợp đồng cho vay số 02: Ngày 28/6/2018, V và bà Trương Thị Thanh T ký Hợp đồng cho vay số [...]/2018-HĐCV/NHCT250; số tiền vay là 1,3 tỷ đồng; mục đích vay: thanh toán chi phí xây dựng nhà ở tại tổ I, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình; thời hạn cho vay là 215 tháng; lãi suất thể hiện trên từng giấy nhận nợ, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Ngày 07/5/2018, Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền trên cho bà T thể hiện trên 03 giấy nhận nợ với lãi suất cho vay là 10,5%/năm, thả nổi, điều chỉnh 01 tháng/lần. Lãi suất khuyến mại là 8,0%/năm trong thời gian 12 tháng kể từ ngày giải ngân.
  • Quá trình thực hiện hợp đồng, người vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, khoản vay chuyển quá hạn từ ngày 25/3/2024. Tính đến ngày 19/6/2025, dư nợ của khoản vay này là 754.681.239 đồng, trong đó gốc 654.900.000 đồng, lãi 99.781.239 đồng.
  • Hợp đồng cho vay số 03: Ngày 14/7/2018, V và bà Trương Thị Thanh T, ông Vũ Văn L ký Hợp đồng cho vay số [...]/2023-HĐCV/NHCT250 TRƯƠNG THỊ THANH THÚY; số tiền cho vay là 02 tỷ đồng; mục đích vay: nhận chuyển nhượng QSDĐ ở và nhà ở trên đất cho bố mẹ cùng chung sống phục vụ đời sống của gia đình; thời hạn cho vay là 129 tháng; lãi suất thể hiện trên từng giấy nhận nợ, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Ngày 20/7/2023, Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền trên cho bà T, ông L thể hiện trên 01 giấy nhận nợ với lãi suất cho vay là 11%/năm.
  • Quá trình thực hiện hợp đồng, người vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, khoản vay chuyển quá hạn từ ngày 25/3/2024. Tính đến ngày 19/6/2025, dư nợ của khoản vay này là 2.128.162.635 đồng, trong đó gốc 1.851.000.000 đồng, lãi 277.162.635 đồng.
  • Hợp đồng cho vay số 04: Ngày 14/7/2023, V và bà Trương Thị Thanh T – chủ hộ kinh doanh Nhà thuốc Thanh T ký Hợp đồng cho vay hạn mức số [...]/2023-HĐCVHM/NHCT250 – TRƯƠNG THỊ THANH THÚY; số tiền cam kết cho vay là 09 tỷ đồng; mục đích cho vay: bổ sung vốn lưu động kinh doanh thuốc tân dược, sản phẩm đông dược, dụng cụ y tế, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm các loại; thời hạn cho vay là 06 tháng theo từng giấy nhận nợ; lãi suất thể hiện trên từng giấy nhận nợ, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Ngày 20/7/2023, Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền trên cho bà T thể hiện trên 23 giấy nhận nợ với lãi suất cho vay từ 7,5% đến 8%/năm.
  • Quá trình thực hiện hợp đồng, người vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, khoản vay chuyển quá hạn từ ngày 25/3/2024. Tính đến ngày 19/6/2025, dư nợ của khoản vay này là 8.824.882.142 đồng, trong đó gốc 7.564.000.000 đồng, lãi 1.260.882.142 đồng.
  • Hợp đồng cho vay số 05: Ngày 14/7/2023, V và bà Trương Thị Thanh T ký Hợp đồng vay số [...]/2023-HĐCVHM/NHCT250 (cho vay hạn mức thấu chi); số tiền cho vay là 01 tỷ đồng; mục đích cho vay: phục vụ kinh doanh thuốc tân dược, sản phẩm đông dược, dụng cụ y tế, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm các loại; thời hạn duy trì hạn mức là 01 năm; lãi suất thể hiện trên từng giấy nhận nợ, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền trên cho bà T vào tài khoản thanh toán thấu chi với lãi suất cho vay 10,5%/năm.
  • Quá trình thực hiện hợp đồng, người vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, khoản vay chuyển quá hạn từ ngày 25/3/2024. Tính đến ngày 19/6/2025, dư nợ của khoản vay này là 1.186.547.858 đồng, trong đó gốc 999.994.087 đồng, lãi 186.553.771 đồng.

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay trên gồm có:

  • Tài sản 1: QSDĐ đối với thửa số 379, tờ bản đồ 05 tại tổ A, phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình theo giấy chứng nhận QSDĐ số R 345407 do UBND thị xã H cấp ngày 19/3/2002 mang tên hộ bà Trương Thị Thanh T. Bà T, ông L, chị Phương A đồng ý dùng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo cho tất cả các khoản vay của bà Trương Thị Thanh T tại V.
  • Tài sản 2: QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất thửa số 138, tờ bản đồ 13 tại tổ A (tổ I cũ), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình theo giấy chứng nhận QSDĐ số BU 718113 do U cấp ngày 28/5/2014 mang tên bà Trần Thị N1 (ngày 24/5/2018 đã sang tên cho bà Trương Thị Thanh T tại mục IV của giấy chứng nhận).
  • Tài sản 3: QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa số 137, tờ bản đồ 13 tại tổ A (tổ I cũ), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình theo giấy chứng nhận QSDĐ số BB 775164 do U cấp ngày 08/11/2010 cho ông Bùi Thái S (ngày 13/7/2023 đã sang tên cho ông Trương Quốc C tại mục IV của giấy chứng nhận).
  • Tài sản 4: QSDĐ đối với thửa số 998, tờ bản đồ 07 tại tổ B (nay là tổ A), phường T, TP T, tỉnh Thái Bình theo giấy chứng nhận QSDĐ số K 879201 do U cấp ngày 11/6/2004 mang tên ông Phan Thế N và bà Nguyễn Thị D, ngày 24/5/2018.

Đối với tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT, loại 3008, BKS 30H-781.78 mang tên ông Vũ Hồng T2 được dùng để đảm bảo cho tất cả các khoản vay của bị đơn, đã được giải chấp và không đề nghị Tòa án xử lý.

Quá trình thực hiện hợp đồng, do bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã nhiều lần thông báo và làm việc với bà Trương Thị Thanh T, ông Vũ Văn L để đôn đốc trả nợ nhưng không có kết quả, do đó Ngân hàng khởi kiện bà Trương Thị Thanh T, ông Vũ Văn L, đề nghị Tòa án:

Buộc bà Trương Thị Thanh T (chủ hộ kinh doanh Nhà thuốc T4) phải trả Ngân hàng TMCP C2 10.011.430.000 đồng; Buộc bà Trương Thị Thanh T và ông Vũ Văn L phải liên đới trả cho Ngân hàng TMCP C2 4.183.758.571 đồng tạm tính đến ngày xét xử sở thẩm. Bà T, ông L tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn cho V theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo từng hợp đồng tín dụng kể từ sau ngày xét xử cho đến khi thanh toán xong nợ.

Trường hợp ông Vũ Văn L, bà Trương Thị Thanh T không thực hiện đầy đủ, đúng nghĩa vụ trả nợ thì V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm đã nêu ở trên theo Hợp đồng thế chấp đã ký để thu hồi nợ.

2. Bị đơn bà Trương Thị Thanh T trình bày:

Bà T thừa nhận có nhiều lần vay các khoản tín dụng tại V chi nhánh H1 và hiện nay còn 05 hợp đồng tín dụng chưa tất toán với số tiền nợ gốc, lãi cộng dồn, lãi quá hạn như Ngân hàng nêu tại thời điểm khởi kiện. Bà T đều chấp hành việc trả nợ, mua các loại bảo hiểm, trả các khoản phí theo yêu cầu của Ngân hàng. Tuy nhiên, đến năm 2023, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, thiên tai, bản thân bà T mắc bệnh hiểm nghèo, kinh doanh gặp nhiều khó khăn nên dẫn đến việc trả nợ bị chậm trễ. Bà T đã tích cực tìm nhiều phương án xử lý nợ nhưng không được nên phát sinh nợ quá hạn song hàng tháng vẫn gửi số tiền từ 5-10 triệu đồng trả vào nợ gốc.

Đối với tài sản bảo đảm, bà T xác nhận hiện còn 04 tài sản là nhà đất đang dùng để bảo đảm cho 05 khoản nợ tại V như Ngân hàng nêu. Bà T đề nghị Ngân hàng hỗ trợ bán 02 tài sản là nhà đất tại số D đường N, tổ A, phường P và nhà đất tại số B Đại lộ T, tổ A, phường T đều là tài sản của bà T để thu hồi nợ. Đồng thời, đề nghị Ngân hàng L1 thời gian trả nợ để bán nhà và xem xét miễn giảm các khoản lãi cho bà.

3. Ông Vũ Văn L, ông Phan Thế N, bà Nguyên Thị D1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ, các giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng vắng mặt, không có bất cứ ý kiến phản hồi nào bằng văn bản đối với việc giải quyết vụ án.

4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Phương A trình bày

Năm 2018, chị được mẹ đẻ là bà Trương Thị Thanh T gọi về ký vào một số văn bản, giấy tờ để thế chấp tài sản cho V. Khi về nhà, chị được ký vào các trang của hợp đồng, giấy tờ soạn sẵn. Việc vay mượn, thế chấp như thế nào chị không được trao đổi, bàn bạc, không được thỏa thuận. Chị Phương A không đồng ý việc Ngân hàng đề nghị phát mại tài sản tại vị trí nhà số D, đường N, tổ A, phường P, TP H để thu hồi nợ song cho biết hiện gia đình đang treo biển bán nhà đất trên, đề nghị Ngân hàng giãn nợ, phối hợp với gia đình chị trong việc tìm kiếm khách hàng.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2025/KDTM –ST ngày 19/6/2025 Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình đã xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm g khoản 1 Điều 40; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 116, Điều 119, Điều 280, Điều 288, Điều 298, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 351, Điều 353, Điều 357, 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024. Căn cứ điều 20, điều 30, điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình. Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014. Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C2.

1. Buộc bà Trương Thị Thanh T (chủ hộ kinh doanh Nhà thuốc T4) phải trả Ngân hàng TMCP C2 10.011.430.000 đồng (bằng chữ: mười tỷ, không trăm mười một triệu, bốn trăm ba mươi nghìn đồng). Trong đó gốc là 8.563.994.087 đồng và lãi là 1.447.435.913 đồng.

Bà Trương Thị Thanh T phải tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng (nợ gốc của hợp đồng số [...]/2023-HĐCVHM/NHCT250-TRƯƠNG THỊ THANH THÚY ngày 14/7/2023 là 7.564.000.000 đồng; nợ gốc của hợp đồng số [...]/2023-HĐCVHM/NHCT250 ngày 14/7/2023 là 999.994.087 đồng) và các giấy nhận nợ đã ký kết (bằng 150% lãi suất trong hạn) kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

2. Buộc bà Trương Thị Thanh T và ông Vũ Văn L phải liên đới trả cho Ngân hàng TMCP C2 4.183.758.571 đồng (bằng chữ: Bốn tỷ, một trăm tám mươi ba triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, năm trăm bảy mươi mốt đồng). Trong đó gốc là 3.635.700.000 đồng và lãi là 548.058.571 đồng.

Trong đó: Bà Trương Thị Thanh T phải trả 2.091.879.285,5 đồng; ông Vũ Văn L phải trả 2.091.879.285,5 đồng.

Bà Trương Thị Thanh T và ông Vũ Văn L phải tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng (nợ gốc của hợp đồng số [...]/2018-HĐCV/NHCT250, 07/5/2018 là 1.129.800.000 đồng; nợ gốc của hợp đồng số [...]/2018-HDCV/NHCT250 ngày 28/6/2018 là 654.900.000 đồng; nợ gốc của hợp đồng số [...]/2023-HĐCV/NHCT250 - TRƯƠNG THỊ THANH THÚY, ngày 14/7/2018 là 1.851.000.000 đồng) và các giấy nhận nợ đã ký kết (bằng 150% lãi suất trong hạn) kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bà Trương Thị Thanh T và ông Vũ Văn L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên, thì Ngân hàng TMCP C2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ; cụ thể gồm các tài sản sau:

  • Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thửa số 379, tờ bản dồ số 05 tại tổ A, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình theo giấy chứng nhận QSDĐ số R345407 do UBND thị xã H cấp ngày 19/3/2002 mang tên hộ bà Trương Thị Thanh T.
  • Số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp nêu trên được thanh toán cho Ngân hàng TMCP C2 tối đa không quá 1.404.660.000 đồng nợ gốc cùng số tiền nợ lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và nghĩa vụ tài chính khác phát sinh của các khoản tín dụng mà Ngân hàng đã cấp. Nếu còn thừa sẽ trả lại cho bà T, ông L, chị Phương A; nếu còn thiếu thì bà T, ông L phải tiếp tục hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
  • Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 138, tờ bản đồ số 13 tại tổ A (tổ I cũ), phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình theo giấy chứng nhận QSDĐ số BU718113 do UBND thành phố H cấp ngày 28/5/2014 mang tên bà Trần Thị N1, ngày 24/5/2018 được xác nhận thay đổi sang cho bà Trương Thị Thanh T (được điều chỉnh tại mục IV).
  • Số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp nêu trên được thanh toán cho Ngân hàng V trong phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm, tối đa không quá 4.093.365.000 đồng nợ gốc cùng số tiền nợ lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và nghĩa vụ tài chính khác phát sinh của các khoản tín dụng mà Ngân hàng đã cấp. Nếu còn thừa sẽ trả lại cho bà T3; nếu còn thiếu thì bà T, ông L phải tiếp tục hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
  • Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa số 137, tờ bản đồ 13 tại tổ A (tổ I cũ), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình theo giấy chứng nhận QSDĐ số BB775164 do UBND thành phố H cấp ngày 08/11/2010 cho ông Bùi Thái S, ngày 13/7/2023 được xác nhận thay đổi sang cho ông Trương Quốc C (được điều chỉnh tại mục IV). Nếu còn thiểu thì bà T, ông L phải tiếp tục hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
  • Quyền sử dụng đất đối với thửa số 998, tờ bản đồ 07 tại tổ B (nay là tổ A), phường T, TP T, tỉnh Thái Bình theo giấy chứng nhận QSDĐ số K879201 do UBND thị xã U cấp ngày 11/6/2004 mang tên ông Phan Thế N và bà Nguyễn Thị D, ngày 24/5/2018
  • Số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp nêu trên được thanh toán cho Ngân hàng V trong phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm, tối đa không quá 1.734.000₫ nợ gốc cùng số tiền nợ lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và nghĩa vụ tài chính khác phát sinh của các khoản tín dụng mà Ngân hàng đã cấp. Nếu còn thừa sẽ trả lại cho ông N, bà D; nếu còn thiếu thì bà T, ông L phải tiếp tục hoàn thành nghĩa vụ trả nợ

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, việc thi hành án, quyền kháng cáo.

Ngày 02/7/2025 bị đơn bà Trương Thị Thanh T; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Quốc C và bà Nguyễn Thị T1; Ông Phan Thế N và bà Nguyễn Thị D kháng cáo với nội dung:

  • Bà Trương Thị Thanh T, ông Trương Quốc C, bà Nguyễn Thị T1 kháng cáo với nội dung không đồng ý xử lý tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa số 137, tờ bản đồ 13 tại tổ A (tổ I cũ), phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình theo giấy chứng nhận QSDĐ số BB775164 do UBND thành phố H cấp ngày 08/11/2010 cho ông Bùi Thái S, ngày 13/7/2023 được xác nhận thay đổi sang cho ông Trương Quốc C (được điều chỉnh tại mục IV).
  • Ông Trương Quốc C, bà Nguyễn Thị T1 đề nghị tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp tài sản do họ không được giải thích về quyền, nghĩa vụ, hậu quả của việc ký kết hợp đồng.
  • Bà Trương Thị Thanh T, ông Phan Thế N, bà Nguyễn Thị D không đồng ý xử lý tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất đối với thửa số 998, tờ bản đồ 07 tại tổ B (nay là tổ A), phường T, TP T, tỉnh Thái Bình theo giấy chứng nhận QSDĐ số K879201 do UBND thị xã U cấp ngày 11/6/2004 mang tên ông Phan Thế N và bà Nguyễn Thị D, ngày 24/5/2018.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự kháng cáo trình bày:

  • Bà Trương Thị Thanh T: Khi tôi vay tiền của Ngân hàng thì tôi đã có 02 tài sản bảo đảm đứng tên tôi, khi tôi muốn nâng hạn mức tín dụng để vay thêm thì Ngân hàng bảo là phải đưa thêm tài sản vào nhưng không giải thích rõ hậu quả của việc đưa thêm tài sản bảo đảm vào, quyền, nghĩa vụ của người sở hữu tài sản đưa thêm, 02 tài sản bảo đảm mang tên của tôi đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng X, ngân hàng không phải chịu rủi ro cho việc trả nợ. Tôi đề nghị Ngân hàng trả lại 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhà ông C, ông N.
  • Ông Trương Quốc C bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Chị T mượn giấy chúng nhân quyền sử dụng đất (bìa đỏ) của tôi để ra Ngân hàng xem có vay tiền được nữa không, bìa đỏ của tôi khi đó là để chị T giữ hộ, tôi đồng ý. Tôi được Ngân hàng gọi lên ngày 14/7/2023 để ký xác nhận cho chị T vay tiền. Khi ký tôi không được đọc nội dung văn bản, không biết văn bản đó có nội dung là văn bản thế chấp tài sản để chị T vay tiền. Tôi không được ra văn phòng công chứng để ký hợp đồng thế chấp. Tôi cho rằng hợp đồng không đảm bảo để đủ điều kiện thế chấp. Nếu chị T vay tiền thì chị T tự trả và ngân hàng, trả lại bìa đỏ cho vợ chồng tôi. Đề nghị Tòa tuyên hợp đồng thế chấp ngày 14/7/2023 và văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp vô hiệu.
  • Ông Phan Thế N và bà Nguyễn Thị D trình bày: Tôi cho rằng Ngân hàng làm không đúng vì khi chị T hỏi mượn bìa đỏ của tôi, tôi đồng ý cho mượn, chị T mượn bìa chỉ để hỏi bìa đỏ có vay tiền được không. Khi mượn chị T chỉ nói mượn nên tôi đưa, sau đó nhân viên Ngân hàng xuống nhà tôi thì Ngân hàng đã làm trước các thủ tục và bảo tôi đi ký vào hợp đồng. tôi không phải là người vay tiền và không được cầm tiền nên chị T phải có trách nhiệm trả Ngân hàng và Ngân hàng phải trả lại bìa đỏ cho tôi.

Ngân hàng trình bày: Giữ nguyên ý kiến tại cấp sơ thẩm.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào mới được pháp luật chấp nhận nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị Thanh T, ông Phan Thế N, bà Nguyễn Thị D, ông Trương Quốc C, bà Nguyễn Thị T1. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2025/KDTM –ST ngày 19/6/2025 Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình (nay là TAND khu vực 12 - Phú Thọ)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo hợp lệ, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo và những người tham gia tố tụng khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung kháng cáo:

2.1. Ngân hàng TMCP C2 và bà Trương Thị Thanh T, ông Vũ Văn L có ký kết các hợp đồng tín dụng, trong đó có 02 hợp đồng cho hộ kinh doanh nhà thuốc T5 do bà Trương Thị Thanh T làm chủ hộ kinh doanh với mục đích kinh doanh thuốc và 3 hợp đồng cho bà T, ông L vay với mục đích tiêu dùng. Tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất, tài sản khác gắn liền với đất. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, hộ kinh doanh nhà thuốc T5 còn nợ ngân hàng cả tiền gốc và lãi là 10.011.430.000đ; Bà T và ông L còn nợ Ngân hàng cả tiền gốc và lãi là 4.183.757.635₫.

2.2. Tại phiên toà, bà T xác nhận có nợ gốc và lãi như trên và cam kết trách nhiệm trả nợ; bà T không có ý kiến gì đối với việc ký kết các hợp đồng tín dụng cũng như các hợp đồng thế chấp liên quan đến các tài sản thế chấp tại quyền sử dụng đất đối với thửa số 379, tờ bản đồ 05 tại tổ A, phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình và quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất thửa số 138, tờ bản đồ 13 tại tổ A, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về nội dung này là có căn cứ, đúng pháp luật, các đương sự không có kháng cáo.

2.3. Xét kháng cáo của bà Trương Thị Thanh T, ông Trương Quốc C và bà Nguyễn Thị T1 với nội dung:

Không đồng ý xử lý tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa số 137, tờ bản đồ 13 tại tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình theo giấy chứng nhận QSDĐ số BB775164 do UBND thành phố H cấp ngày 08/11/2010 cho ông Bùi Thái S, ngày 13/7/2023 được xác nhận thay đổi sang cho ông Trương Quốc C (được điều chỉnh tại mục IV), đề nghị tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp tài sản do họ không được giải thích về quyền, nghĩa vụ, hậu quả của việc ký kết hợp đồng:

2.3.1. Tài liệu hồ sơ thể hiện:

  • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được lập tại Văn phòng C3 tỉnh Hòa Bình; địa chỉ số A, đường Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình vào ngày 14/7/2023 giữa một bên là Ngân hàng TMCP C2 và một bên là ông Trương Quốc C và bà Nguyễn Thị T1 có nội dung:
  • Bên thế chấp đồng ý thế chấp tài sản của mình cho bên nhận thế chấp để đảm bảo cho nghĩa vụ của bên được được bảo đảm theo mô tả tại khoản 1.02 hợp đồng; thông tin chi tiết của các bên được bảo đảm với tư cách mỗi bên được đảm bảo lần lượt là bà Trương Thị Thanh T; ông Vũ Văn L và vợ là bà Trương Thị Thanh T. Nghĩa vụ được bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn (bao gồm gốc lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác...Tài sản thế chấp: Thửa đất số 137, tờ bản đồ 13 tại tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, diện tích 54,8m2.
  • Biên bản định giá tài sản bảo đảm lập ngày 14/7/2023: giá trị cấp tín dụng tối đa: 3.406.368.000đ, Biên bản định giá lại tài sản bảo đảm ngày 05/12/ 2023 giá trị của tài sản thế chấp là 5.570.182.000đ, giá trị cấp tín dụng tối đa: 3.899.127.400₫.
  • Văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được lập tại Văn phòng C3 tỉnh Hòa Bình, địa chỉ số A, đường Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình vào ngày 05/12/2023 giữa một bên là Ngân hàng TMCP C2 và một bên là ông Trương Quốc C và bà Nguyễn Thị T1 có nội dung: Sửa đổi Điều 2 của hợp đồng: “Tại thời điểm ký kết hợp đồng, các bên thống nhất định giá giá trị của tài sản thế chấp là 5.570.182.000đ”.

2.3.2. Như vậy, hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và các văn bản khác có liên quan được ký kết dựa trên sự thoả thuận giữa các bên, tuân theo các điều kiện, nội dung, hình thức được Bộ luật Dân sự và pháp luật đất đai quy định; theo đó bên sử dụng đất dùng quyền sử dụng đất của mình đi thế chấp để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự, cấp sơ thẩm quyết định trường hợp bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được xử lý theo yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, người kháng cáo đề nghị hợp đồng thế chấp ngày 14/7/2023 và văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp vô hiệu là không có căn cứ.

2.4. Xét kháng cáo của Bà Trương Thị Thanh T, ông Phan Thế N và bà Nguyễn Thị D với nội dung:

Không đồng ý xử lý tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất đối với thửa số 998, tờ bản đồ 07 tại tổ B (nay là tổ A), phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình theo giấy chứng nhận QSDĐ số K879201 do UBND thị xã U cấp ngày 11/6/2004 mang tên ông Phan Thế N và bà Nguyễn Thị D ngày 24/5/2018.

2.4.1. Tài liệu hồ sơ thể hiện:

  • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được lập tại Văn phòng C4, địa chỉ số nhà A, phố L; phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình vào ngày 03/5/2018 giữa một bên là Ngân hàng TMCP C2 (ông Lương Việt C1 phó giám đốc) và một bên là ông Phan Thế N và bà Nguyễn Thị D có nội dung:
  • Bên thế chấp đồng ý thế chấp tài sản của mình cho bên nhận thế chấp để đảm bảo cho nghĩa vụ của bên được được bảo đảm theo mô tả tại khoản 1.02 hợp đồng; thông tin chi tiết bên được bảo đảm là (bà Trương Thị Thanh T). Nghĩa vụ được bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn (bao gồm gốc lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác). Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất đối với thửa số 998, tờ bản đồ 07 tại tổ B, phường T, TP T, tỉnh Thái Bình; diện tích 136,0m2.
  • Cùng ngày 03/5/2018 các bên còn có đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất gửi Chi nhánh văn phòng đất đai thành phố T.
  • Biên bản định giá tài sản lập ngày 07/5/2018: giá trị cấp tín dụng tối đa: 1.734.000.000₫, Biên bản định giá lại tài sản bảo đảm ngày 26/6/2023 giá trị của tài sản thế chấp là 4.192.000.000đ, giá trị cấp tín dụng tối đa: 3.144.000.000₫
  • Văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được lập tại Văn phòng C5, địa chỉ số nhà A, phố L; phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình vào ngày 27/6/2023 giữa một bên là Ngân hàng TMCP C2 (ông Nguyễn Quốc H phó giám đốc) và một bên là ông Phan Thế N và bà Nguyễn Thị D có nội dung:
  • Sửa đổi Điều 1 của hợp đồng: “Bên thế chấp đồng ý thế chấp tài sản của mình cho bên nhận thế chấp để đảm bảo cho nghĩa vụ của bên được được bảo đảm theo mô tả tại khoản 1.02 Hợp đồng, thông tin chi tiết của các bên được bảo đảm với tư cách mỗi bên được đảm bảo lần lượt là bà Trương Thị Thanh T; ông Vũ Văn L và vợ là bà Trương Thị Thanh T"
  • Sửa đổi Điều 2 của hợp đồng: “Tại thời điểm ký kết hợp đồng, các bên thống nhất định giá giá trị của tài sản thế chấp là 4.192.000.000₫”.

2.4.2. Như vậy, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và các văn bản khác có liên quan được ký kết dựa trên sự thoả thuận giữa các bên, tuân theo các điều kiện, nội dung, hình thức được Bộ luật Dân sự và pháp luật đất đai quy định; theo đó bên sử dụng đất dùng quyền sử dụng đất của mình đi thế chấp để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự, cấp sơ thẩm quyết định trường hợp bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được xử lý theo yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

2.4.3. Theo Điều 317, 319 Bộ luật Dân sự năm 2015: Thế chấp tài sản là việc một bên (gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (gọi là bên nhận thế chấp). Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp. Hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

2.5. Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào mới được pháp luật chấp nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị Thanh T, ông Phan Thế N, bà Nguyễn Thị D, ông Trương Quốc C, bà Nguyễn Thị T1. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2025/KDTM –ST ngày 19/6/2025 Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình (nay là TAND khu vực 12 - Phú Thọ) như đã nhận định trên, phù hợp với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa.

[4] Những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Căn cứ vào Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bà Trương Thị Thanh T phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Ông C, bà T1, ông N, bà D là người cao tuổi được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị Thanh T, ông Trương Quốc C và bà Nguyễn Thị T1; ông Phan Thế N và bà Nguyễn Thị D. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2025/KDTM-ST ngày 19/6/2025 Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ)
  2. Về án phí phúc thẩm:

    Bà Trương Thị Thanh T phải chịu 2.000.000đ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm được đối trừ số tiền 2.000.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000264 ngày 14/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

    Ông Trương Quốc C và bà Nguyễn Thị T1, ông Phan Thế N và bà Nguyễn Thị D được miễn án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

  3. Những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (22/10/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - VKSND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND khu vực 12- Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 12- Phú Thọ;
  • - Phòng THA khu vực 12- Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA; VP;

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/KDTM - PT ngày 22/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 29/2025/KDTM - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2025/KDTM –ST ngày 19/6/2025
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger