|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HSST Ngày 24/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Anh Nhinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Gia Thắng
Bà Nguyễn Thị Kim Trình
Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hồng Nhung – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Nhân Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: HOÀNG VĂN T, sinh ngày: 26/02/1982 tại Y, Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; HKTT: khu Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Hoàng Văn V (Đã chết); Mẹ đẻ: Hà Thị L - SN: 1934; Hiện mẹ đẻ bị cáo đang ở khu Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Vợ: Trịnh Thị L1 - SN: 1984 (Đã ly hôn); Con: Bị cáo có 01 con, sinh năm 2002.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Lịch sử bản thân: Ngày 29/6/2015, Hoàng Văn T bị TAND huyện Yên Lập xử phạt 6.000.000đ về tội “Đánh bạc.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam - khu vực T.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại:
Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Khu Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ .
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Tiến D, sinh năm 1982.
- Ông Nguyễn Đức M1, sinh năm 1957.
- Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1961.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ: Tổ B, khu Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ: Tổ B, khu Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(chị M, ông M1, bà V1 đều có mặt, anh D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6/2014 chị Nguyễn Thị M, khi đó là giáo viên dạy tại trường Tiểu học Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ có nhu cầu muốn xin chuyển công tác về một trường học trên địa bàn thành phố V, tỉnh Phú Thọ nên chị M gọi điện thoại cho bà Đinh Thị L2, là bạn với bố mẹ đẻ của chị M để nhờ bà L2 hỏi giúp thì bà L2 đồng ý. Khi chị M gọi điện cho bà L2 thì bà L2 đang đi trên xe taxi do anh Phạm Tiến D điều khiển nên bà có kể lại cho anh D nghe nội dung trên và hỏi anh D có quen biết ai không thì anh D trả lời là có quen người ở thanh tra tỉnh Phú Thọ để anh D hỏi xin chuyển công tác cho chị M (Thời điểm này, anh D đang là lái xe cho ông Vũ Nghi S, sinh năm 1958, là Giám đốc Trung tâm tư liệu Thanh tra tỉnh P, thứ 7 và chủ nhật hàng tuần không có việc làm nên anh D đi chạy taxi để kiếm thêm thu nhập). Sau đó, bà L2 cho chị M số điện thoại của anh D để chị M và anh D trực tiếp trao đổi với nhau. Quá trình nói chuyện, anh D nói với chị M là có người quen ở thanh tra tỉnh Phú Thọ nên có thể nhờ xin chuyển công tác cho chị M được. Khoảng 03 ngày sau, anh D gọi điện thoại bảo chị M chuẩn bị hồ sơ xin chuyển công tác và số tiền 15.000.000đ để đặt cọc thì chị M đồng ý. Vài ngày sau, anh D hẹn gặp chị M tại khu vực gần sân vận động thị trấn T, huyện T để nhận hồ sơ, khi anh D và chị M gặp nhau thì chị M đưa cho anh D một bộ hồ sơ xin chuyển công tác nhưng chưa đưa tiền, sau đó anh D cầm hồ sơ về để ở nhà ở của mình. Khoảng 10 ngày sau, chị M hẹn anh D đến phố A, phường T, thành phố V và đưa cho anh D số tiền 5.000.000đ. Khoảng vài ngày sau anh D tiếp tục gọi điện thoại cho chị M bảo chị M đưa thêm số tiền 10.000.000₫ thì chị M đồng ý. Sau đó chị M hẹn anh D đến phố A, phường T, thành phố V và đưa cho anh D số tiền 10.000.000đ. Sau khi nhận hồ sơ xin việc của chị M và số tiền 15.000.000đ, trong một lần lái xe chở ông S, anh D nói chuyện và nhờ ông S xin chuyển công tác cho chị M nhưng ông S không đồng ý. Khoảng 02 ngày sau, Hoàng Văn T, là bạn của anh D đến nhà anh D chơi thì nhìn thấy bộ hồ sơ xin việc của chị M nên T hỏi anh D “hồ sơ của ai đây?” thì anh D trả lời “Hồ sơ của đứa bạn, nghe nói chồng con bé này đang ở bên nước ngoài” và hỏi T có quen biết ai để chuyển công tác không thì T nói là có. Thấy vậy, anh D nói với T “Thế
thì tôi cho ông số điện thoại của con bé này, ông nói chuyện với nó nhé”, do muốn có tiền tiêu sài nên T đồng ý. Lúc này T đã nảy sinh ý định lừa chị M để chiếm đoạt tài sản. Do không xin chuyển công tác được cho chị M nên anh D gọi điện thoại cho chị M để nói với chị M là có bạn tên T, có quen biết với người ở trên tỉnh nên có thể xin chuyển công tác được cho chị M và bảo chị M liên lạc trực tiếp với T thì chị M đồng ý. Anh Dũng cho chị M số điện thoại của T để hai người liên lạc và trực tiếp trao đổi với nhau. Sau khi không xin chuyển công tác được cho chị M, anh D đã nhờ anh Hoàng Minh H cầm số tiền 15.000.000đ và hồ sơ xin chuyển công tác đến xã Y, huyện T trả lại cho chị M. Còn về phía T, sau khi có số điện thoại của chị M thì T gọi điện thoại cho chị M tự giới thiệu T là Trưởng phòng tổ chức của Sở nội vụ tỉnh P và bảo chị M liên lạc trực tiếp với T để chuyển công tác thì chị M đồng ý. T nói với chị M là chuyển công tác hết khoảng 150.000.000đ và yêu cầu chị M chuyển trước một số tiền để đặt cọc. Ngày 28/8/2014, chị M gặp T tại quán cà phê “Chợt Nhớ” thuộc phường G, thành phố V và đưa cho T số tiền 40.000.000đ, còn T đưa cho chị Mai M2 tờ giấy ghi “BẢN HỢP ĐỒNG KINH TẾ” do T đã soạn sẵn nội dung để chị M ký tên và điền số tiền 40.000.000đ vào bản hợp đồng này và T ghi tên mình trong bản hợp đồng là Nguyễn Đức T1. Khoảng 15 ngày sau, T1 tiếp tục yêu cầu chị M chuyển cho T1 số tiền 70.000.000đ và hẹn gặp nhau tại Sở giáo dục và đào tạo tỉnh P thì chị M đồng ý. Ngày 12/9/2014, T1 thuê anh Nguyễn Anh T2 chở T1 đến Sở giáo dục và đào tạo tỉnh P thuộc Phường T, TP V. Đến nơi T1 bảo anh T2 đỗ xe ở ngoài cổng rồi T1 xuống xe đi vào đứng ở sân Sở giáo dục để chị M nhìn thấy và tin tưởng T1. Khi chị M đến nơi thì T1 bảo chị M lên xe ô tô của anh T2 rồi ngồi ở hàng ghế phía sau. Chị M đưa cho T1 số tiền 70.000.000đ rồi bảo T1 viết giấy biên nhận tiền thì T1 đồng ý, T1 viết vào tờ giấy A4 nội dung “Tên tôi là Nguyễn Doãn T3. SCM 13758. Hôm nay ngày 12/9/2024 tôi có nhận của Bà nguyễn thị M với số tiền là 70.000.000₫ bẩy mươi triệu đồng chẵn” và ký tên Nguyễn Doãn T3 rồi đưa cho chị M giữ. Chị M hỏi T3 lý do tên đệm khác nhau thì T3 nói Nguyễn Doãn T3 là tên chính xác còn Nguyễn Đức T1 là tên thường gọi ở nhà. Khi chị M đưa tiền cho T1 thì anh T2 ngồi ở ghế lái nên không biết việc T1 và chị M trao đổi đưa tiền cho nhau như thế nào. Ngày 28/9/2014, T1 tiếp tục gọi điện yêu cầu chị M đưa thêm cho T1 30.000.000đ, chị M đồng ý và hẹn T1 đến nhà bố mẹ chị M ở khu Đ, xã Y, huyện T để chơi và lấy tiền. Sau đó, T1 thuê một chiếc taxi trên đường do một người nam giới tên là Q điều khiển (T1 không biết năm sinh, địa chỉ của Q ở đâu) để đi đến nhà bố mẹ đẻ của chị M. Sau đó, T1 cùng chị M và bố mẹ chị M là bà Nguyễn Thị V1, ông Nguyễn Đức M1 và anh Q ăn cơm tại nhà bố mẹ chị M. Quá trình ăn cơm, T1 nói là việc chuyển công tác cho chị M đã xong, chỉ khoảng một tuần nữa là có quyết định. Sau khi ăn cơm xong, bà V1 lấy 30.000.000₫ đưa cho chị M rồi chị M đưa tiền cho T1 (do tin tưởng T1 nên lần đưa tiền này không có giấy tờ hay hợp đồng gì). Thời điểm này, anh Q ra ngoài quán uống nước nên không biết việc giao nhận tiền giữa chị M và T1. Sau đó, anh Q chở T1 về nhà T1. Tổng số tiền T1 nhận để chuyển công tác cho chị M là 140.000.000đ, số tiền này T1 đã tiêu xài hết và cũng không xin chuyển được công tác cho chị M như đã hứa. Khoảng một tuần
sau, chị M không thấy được chuyển công tác nên đã nhiều lần tìm gặp T1 để yêu cầu T1 trả lại tiền nhưng T1 không trả và bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 17/01/2017, chị M đã tố giác hành vi của Hoàng Văn T.
Tại Kết luận giám định số 767 ngày 22/01/2017 của Phòng KTHS – Công an tỉnh P kết luận: “Chữ viết trên tờ giấy A4 có chữ viết bắt đầu “Tên tôi là..”, kết thúc là các chữ “... Nguyễn Doãn T3” (tài liệu cần giám định ký hiệu A) so với chữ viết trên 04 bản tường trình của Hoàng Văn T, viết ngày 19/01/2017 (tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3, M4) là do cùng một người viết ra.”
Tại Cơ quan điều tra Hoàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của T phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, cùng những tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 29/CT - VKS -Th.S ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 139 - Bộ Luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 139 - BLHS năm 1999; Điểm s khoản 1 Điều 51, Đề nghị xử phạt bị cáo T mức hình phạt từ 42 (Bốn mươi hai) tháng đến 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 06/3/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Văn T.
Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng 2 Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo T phải bồi thường trả cho bị hại là chị Nguyễn Thị M số tiền là 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng) và 20.000.000₫ bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho chị M. Tổng là 160.000.000đ (một trăm sáu mươi triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 – Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 – Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu 01 tờ giấy khổ A4, trên giấy thể hiện nội dung T nhận của chị Nguyễn Thị M số tiền 70.000.000đ. Tài liệu do chị Nguyễn Thị M giao nộp cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện T vào ngày 17/01/2017; 01 Bản hợp đồng kinh tế do chị Nguyễn Thị M giao nộp cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện T vào ngày 17/01/2017. Đây là vật chứng của vụ án cần được lưu trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Hoàng Văn T không có ý kiến tranh luận gì.
Tại lời nói sau cùng, các bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của người bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào các ngày 28/8/2014, 12/9/2014 và 28/9/2014, tại địa bàn huyện T và thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Hoàng Văn T, do biết chị Nguyễn Thị M có nhu cầu xin chuyển công tác về thành phố V, T đã lừa sẽ xin chuyển công tác cho chị M từ trường Tiểu học Y về một trường học trên địa bàn thành phố V, tỉnh Phú Thọ để chiếm đoạt của chị M tổng số tiền là 140.000.000₫ sau đó T đã tiêu sài cá nhân hết số tiền trên. Hành vi của Hoàng Văn T đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm e Khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999. Do vậy Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật
[3]. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tộị của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tác động sấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, gây hoang mang bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có đầy đủ năng lực và khả năng nhận thức pháp luật. Nhưng đã bất chấp các quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung và làm gương cho người khác.
[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án tiền sự, nhưng có nhân thân sấu, năm 2015, Hoàng Văn T bị TAND huyện Yên Lập xử phạt số tiền 6.000.000đ về tội “Đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 11/10/2016 và đã được xoá án tích.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.
[ 5]. Về hình phạt: Bị cáo Hoàng Văn T, có nhân thân xấu năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ xử phạt số tiền 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng) về tội “Đánh bạc”, bị cáo chấp hành xong ngày 11/10/2016, đã được xoá án tích. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, điều đó chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo với hình phạt thật nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, nên HĐXX xét thấy cần phạt bị cáo mức hình phạt trên khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật quy định mới đủ để giáo dục cải tạo bị cáo thành người công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.
[6]. Về hình phạt bổ sung:Theo quy định tại khoản 5 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, thì bị cáo T còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000đ đến 100.000.000đ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã chứng minh bị cáo T không có tài sản, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ. HĐXX xét thấy: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo T là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên toà chị M xác nhận bị cáo T chưa bồi thường cho chị khoản tiền 140.000.000đ. Đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải bồi thường trả cho chị số tiền 140.000.000₫ mà T đã lừa để xin chuyển công tác cho chị M và khoản tiền lãi theo quy định của pháp luật, đối với số tiền mà bị cáo đã lừa đảo chiếm đoạt của chị M, do chị M phải đi vay ngân hàng. Tuy nhiên tại phiên toà giữa bị hại và bị cáo đã thoả thuận được với nhau về khoản tiền lãi, bị cáo T tự nguyện bồi thường thêm cho chị M số tiền 20.000.000đ, chị M nhất trí, nên HĐXX không xem xét đến yêu cầu tính lãi của chị M.
HĐXX xét thấy cần buộc bị cáo T phải bồi thường cho chị M số tiền 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng) trong đó số tiền 140.000.000₫ (Một trăm bốn mươi triệu đồng) bị cáo T nhận từ chị M để xin chuyển công tác cho chị M, và số tiền 20.000.000₫ bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho chị Nguyễn Thị M.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 tờ giấy khổ A4, trên giấy thể hiện nội dung T nhận của chị Nguyễn Thị M số tiền 70.000.000đ. Tài liệu do chị Nguyễn Thị M giao nộp cho Cơ quan CSĐT – Công an huyện T vào ngày 17/01/2017; 01 Bản hợp đồng kinh tế do chị Nguyễn Thị M giao nộp cho Cơ quan CSĐT – Công an huyện T vào ngày 17/01/2017. Đây là vật chứng của vụ án cần được lưu trong hồ sơ vụ án.
[9]. Các nội dung khác:
Đối với anh Phạm Tiến D: Năm 2014, sau khi không xin chuyển được công tác cho chị Nguyễn Thị M, anh D hỏi T có quen biết ai để xin chuyển công tác cho chị M thì T nói là có nên anh D cho T số điện thoại của chị M để trực tiếp liên lạc trao đổi. Sau đó, anh D giới thiệu với chị M về việc T có mối quan hệ với người trên tỉnh để xin chuyển công tác cho chị M. Giữa anh D và T không bàn bạc trao đổi với nhau để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị M và anh D cũng không được hưởng lợi ích gì từ số tiền T lừa xin việc cho chị M. Mặt kác, khi không xin chuyển công tác được cho chị M thì anh D đã trả lại số tiền 15.000.000đ mà chị M đã đưa trước đó. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Anh T2: Là người được T thuê chở đến Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh P ngày 12/9/2014 để gặp và nhận số tiền 70.000.000₫ ( Bảy mươi triệu đồng) từ chị M, việc T nhận tiền diễn ra trên xe ô tô của anh T2. Quá trình điều tra xác định, anh T2 chỉ biết T thuê xe chở đến Sở giáo dục nhưng không biết mục đích T đến để làm gì. Khi T nhận tiền và viết giấy nhận tiền trên xe ô tô thì anh T2 không biết do lúc này anh T2 đang ngồi ghế lái. Giữa anh T2 và T không có trao đổi, bàn bạc gì với nhau, anh T2 không biết việc T thuê xe để đi nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản và cũng không được hưởng lợi gì từ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với người nam giới tên Q: Ngày 28/9/2014, anh Q được T thuê chở đến nhà bố mẹ đẻ của chị M tại khu Đ, xã Y, huyện T. Tại đây, T nhận của chị M số tiền 30.000.000đ. Quá trình điều tra xác định, khi được T thuê xe, anh Q không biết mục đích của T đến xã Y để làm gì. Việc T nhận tiền của chị M thì anh Q không biết và cũng không hưởng lợi gì từ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T. Mặt khác, T cũng không biết anh Q tên thật là gì, ở đâu, xe ô tô do anh Q điều khiển mang BKS bao nhiêu. Do đó, Cơ quan điều tra có căn cứ xác minh, làm rõ để đề cập xử lý.
[10]. Về án phí hình sự: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 139- BLHS năm 1999, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 06/3/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Văn T.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng khoản 1 Điều 48 - Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 589 – BLDS Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải có trách nhiệm phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị M số tiền 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, Điều 47 - Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu 01 tờ giấy khổ A4, trên giấy thể hiện nội dung T nhận của chị Nguyễn Thị M số tiền 70.000.000đ. Tài liệu do chị Nguyễn Thị M giao nộp cho Cơ quan CSĐT – Công an huyện T vào ngày 17/01/2017; 01 Bản hợp đồng kinh tế do chị Nguyễn Thị M giao nộp cho Cơ quan CSĐT – Công an huyện T vào ngày 17/01/2017. Đây là vật chứng của vụ án cần được lưu trong hồ sơ vụ án.
4. Về án phí:Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 8.000.000đ (Tám triệu đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự..
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại tại Điều 2 – Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luậtt thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thự hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Thị Anh Nhinh |
Bản án số 29/2025/HSST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 29/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
