TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HƯNG YÊN Bản án số: 29/2025/HSST Ngày: 21/10/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HƯNG YÊN
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thăng.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3- Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 21/10/2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân Khu vực 3- Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 10/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/HSST ngày 15/10/2025 theo thủ tục rút gọn, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức H - sinh ngày 20/10/1999; Sinh, trú quán: thôn Đ, xã T, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đức A, sinh năm:1971 và con bà Nguyễn Thị Thu M, sinh năm 1972; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: chưa có.Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/7/2025 đến ngày 04/7/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên toà)
Những người làm chứng:
Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1989
Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1963.
Đều trú tại: Thôn D, xã L, tỉnh Hưng Yên.
Tại phiên tòa: Những người làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra và Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 417 ngày 09 tháng 10 năm 2025, của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H, xác định được như sau:
Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 01/7/2025, tại thôn D, xã L, tỉnh Hưng Yên tổ công tác xã L bắt quả tang Nguyễn Đức H, sinh năm 1999, thường trú tại thôn Đ, xã T, thành phố Hà Nội đang có hành vi Tàng trữ hàng cấm (pháo nổ). Vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức H gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Vision màu đen, biển số: 29AH-035.6801; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màn hình cảm ứng màu tím; thu tại khung sườn chiếc xe mô tô nêu trên 01 thùng bìa carton, bên trong thùng bìa Carton chứa 05 hộp trụ có in hình hoa văn và chữ nước ngoài. H khai nhận 05 khối hình hộp vừa thu giữ là pháo hoa nổ, mục đích mua về để sử dụng. Kết luận giám định số 548 ngày 03/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Đức H gửi giám định là pháo nổ. Tổng khối lượng là 10,1 kg.
* Vật chứng thu giữ: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Vision màu đen, mang BKS: 29AH-035.6801 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màn hình cảm ứng màu tím là tài sản thuộc sở hữu của bị can H. Bị can H sử dụng xe để làm phương tiện đi mua pháo và điện thoại để liên lạc mua pháo; 01 thùng niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định. Toàn bộ vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Trại tạm giam số 1 – Phân trại Kim Động.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 02/QĐ-VKSKV ngày 09/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hưng Yên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Toà án xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Đề nghị Toà án xét xử áp dụng điểm c khoản 1, Điều 191; điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng đến 02 năm kể từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tịch thu cho tiêu hủy thùng bìa carton niêm phong hoàn lại sau giám định bên trong có chứa pháo nổ và các mẫu vật gửi giám định; trả lại bị cáo 01 xe hon da nhãn hiệu Honda loại xe Vision màu đen, biển số 29AH-035.6801 và đăng ký xe; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màn hình cảm ứng màu tím. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo không tranh luận gì. Khi được nói lời sau cùng bị cáo trình bầy đã nhận thức được lỗi lầm của mình, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa vắng mặt người người làm chứng. Qua xem xét sự vắng mặt của họ, Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ nên xét thấy việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không yêu cầu hoãn phiên tòa. Thẩm phán chủ toạ phiên toà căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3]. Chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp khách quan với lời khai của chính bị cáo tại quá trình điều tra và phù hợp với sự thật khách quan của vụ án. Phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật, Kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 01/7/2025, tại thôn D, xã L, tỉnh Hưng Yên tổ công tác xã L bắt quả tang Nguyễn Đức H có hành vi tàng trữ 10,1kg pháo nổ thì bị Công an bắt quả tang.
Hành vi của Nguyễn Đức H đã phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hưng Yên đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng trong Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 02/QĐ-VKSKV3 ngày 09/10/2025 là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên nhận thức được pháo nổ là loại hàng hóa Nhà nước cấm vận chuyển, buôn bán, tàng trữ và sử dụng. Nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo đã lên mạng Facebook tìm người bán pháo hoa nổ về để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bất chấp các quy định của pháp luật, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm trong đó có pháo nổ. Do đó cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.
Đối với người đàn ông bán pháo nổ cho H, quá trình xác minh không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý nên không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.
[4]. Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có ông nội Nguyễn Đức C được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được định tại điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và phòng chống tội phạm nói chung trong toàn xã hội. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản riêng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng và các biện pháp Tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Thùng bìa carton niêm phong hoàn lại sau giám định bên trong có chứa pháo nổ (pháo hoa nổ) và các mẫu vật gửi giám định đã thu giữ của bị cáo HĐXX xác định đây là hàng cấm và không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại Iphone màn hình màu tím mà cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định bị cáo đã sử dụng điện thoại di động để liên lạc mua pháo nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền 3.000.000 đồng mà bị cáo dự định mua 05 hộp pháo, do đã thống nhất kiểm tra đúng pháo hoa nổ mới trả tiền nên bị cáo không mang theo tiền, vì bị lo sợ bị lừa cướp nên dự định khi kiểm tra xong nếu đúng pháo sẽ nhờ bạn bè mang tiền đến trả, còn nếu không đúng pháo thì bị cáo không trả tiền, không lấy pháo. Việc bị cáo mua pháo nhưng chưa có tiền để trả và đã bị bắt quả tang do đó, không cần thiết phải tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền là 3.000.000 đồng.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Vision màu đen, mang BKS: 29AH-035.6801 là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo H. Bị cáo sử dụng xe để làm phương tiện đi lại nên cần trả lại cho bị cáo.
[7]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/10/2025. Giao bị cáo Nguyễn Đức H cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 thùng bìa Carton được niêm phong dán kín bằng các dải niêm phong màu trắng và băng dính trong suốt. Trên các dải niêm phong đều có ba hình dấu tròn đỏ của Phòng KTHS-Công an tỉnh H. Bên trong có các mảnh niêm phong màu trắng; một hộp bìa carton trên một mặt có ghi dòng chữ “A. HUY. SĐT 0328.892.xxx” và “ANH, HUY SĐT: 0328.892.xxx” “FB Nguyễn Đức H, SĐT 0328.892.xxx” một hộp hình trụ bốn mặt xung quanh bọc giấy màu đỏ, trên nilon màu trắng bạc gửi giám định có in hoa văn và chữ nuóc ngoài, một bọc giấy nilon màu vàng, một mặt bọc giấy nilon màu trắng bạc.
Tịch thu 01 phong bì dán ký hiệu S2 bên trong có 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu tím sung công quỹ nhà nước.
Trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Vision màu đen, mang BKS: 29AH-035.6801 và 01 đăng ký xe cho bị cáo H.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 0 1/QĐ-VKS-KC ngày 09/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hưng Yên, Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/10/2025 giữa Công an tỉnh H với Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3 - Hưng Yên).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thăng |
Bản án số 29/2025/HSST ngày 21/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HƯNG YÊN về tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 29/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần đức huy
