TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 29 /2025/HSST Ngày: 21/3/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Ngân. Nghề nghiệp: Cán bộ
Nơi công tác: Huyện uỷ Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Bà Nguyễn Thị Phí Yến. Nghề nghiệp: Giáo viên.
Nơi công tác: Phòng giáo dục và đào tạo huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thoả - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2025/HSST-ST, ngày 04 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐST- ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Tất N; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 15 tháng 6 năm 2006, tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An, trú tại: Xóm F, xã M, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Tất H, con bà Nguyễn Thị T; Vợ con chưa có.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 11/7/2024 bị công an huyện Đ xử phạt 3.250.000 đồng về hành vi “ Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác”. Hiện chưa chấp hành.
Ngày 08/11/2024 bị công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác”. Hiện chưa chấp hành.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/11/2024 đến ngày 17/11/2024, tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Đặng Văn T1; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2006, tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An, trú tại: Xóm A, xã M, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông: Đặng Văn L, con bà Hoàng Thị Q; Vợ con chưa có.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 03/3/2024 bị công an huyện Đ xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “ Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác”. Hiện chưa chấp hành.
Ngày 08/11/2024 bị công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác”. Hiện chưa chấp hành.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/11/2024 đến ngày 17/11/2024, tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Hải N1; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2008, tại huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, trú tại: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Văn Ố, con bà Lê Thị T2; Vợ con chưa có.
Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo có ông Nguyễn Văn Ố, sinh năm 1982.
Địa chỉ:
Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa ( Là bố của bị cáo) Có mặt tại phiên toà.Người bào chữa cho bị cáo có bà Võ Thị Hoài. Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt tại phiên toà.
Đại diện Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa có ông Nguyễn Ngọc T3. Bí thư đoàn xã. Vắng mặt tại phiên toà.
Người bị hại:
- Chị Trần Thị Kim L1, sinh năm 1978.
- Chị Đậu Thị H1, sinh năm 1994
- Anh Nguyễn Hồng S, sinh năm 1969.
- Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1982.
Địa chỉ:
Thôn T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.Địa chỉ:
Thộ P, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà.Địa chỉ:
Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.Địa chỉ:
Thôn G, xã M, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà.Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Tất H, sinh năm 1982.
Địa chỉ:
Xóm F, xã M, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm như sau:
Vào trưa ngày 12/11/2024, Đặng Văn T1 rủ Nguyễn Tất N và Nguyễn Hải N1 sử dụng ứng dụng chuyển tiền giả có tên “VCB D” (phần mềm do Đặng Văn T1 lấy điện thoại của Nguyễn Hải N1 tải về từ mạng internet trước đó) để đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại các tiệm tạp hóa trên địa bàn huyện T thì được N1 và H2 đồng ý. T1 lấy điện thoại của Nguyễn Tất N mở ứng dụng “VCB D” tiến hành thao tác hướng dẫn cho Nguyễn Tất N và Nguyễn Hải N1 cách sử dụng ứng dụng để tạo ra ảnh “Chuyển khoản thành công” giả. Sau đó các đối tượng bàn bạc, phân công một người điều khiển xe đứng ở ngoài chờ còn hai người sẽ vào mua thẻ điện thoại, hàng hóa; khi thống nhất xong giá trị hàng hóa với chủ quán tạp hóa thì các đối tượng sẽ yêu cầu chủ quán cung cấp mã QR để thanh toán tiền, rồi sử dụng ứng dụng chuyển tiền giả tạo hình ảnh có nội dung thông báo “chuyển khoản thành công” với số tiền tương ứng đến số tài khoản đúng như thông tin trên mã QR để đưa cho chủ quán xem, nếu chủ quán đồng ý thì các đối tượng lấy tài sản là các hàng hóa đã hỏi mua rồi rời đi, nếu gặp trường hợp chủ tiệm tạp hóa kiểm tra phát hiện tiền chưa chuyển vào thì các đối tượng để lại tài sản và lấy lý do rồi rời đi, rồi sẽ đi tìm địa điểm khác để tiếp tục lừa đảo. Sau đó Nguyễn Tất N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vison, không gắn kiểm soát (mượn của ông Nguyễn Tất H, sinh năm 1982, trú ại xóm F, xã M, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, là bố Nguyễn Tất N) chở Nguyễn Hải N1 và Đặng Văn T1 đi từ xã M, huyện Đ theo đường E đi đến huyện T, tỉnh Nghệ An.
Đến khoảng 14 giờ 00 cùng ngày các đối tượng đến ki ốt tạp hóa của chị Đậu Thị H1 (Sinh năm 1994, trú tại xóm P, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An). T1 dừng xe ở cầu K, xã T, huyện T ngồi chờ còn Tất N và Hải N1 đi vào gặp chị H1. Tại đây Hải Nam hỏi mua 05 thẻ cào điện thoại V mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) thì chị H1 nói chỉ có thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng); Hải N1 đồng ý mua 10 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng ) và yêu cầu chị H1 cấp mã QR để thanh toán tiền. Hải Nam sử dụng ứng dụng “VCB D” đã cài trên điện thoại tạo ra hình ảnh có nội dung chuyển khoản thành công 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) đến tài khoản ngân hàng của chị H1 rồi đưa điện thoại cho chị H1 xem. Do tin tưởng là đã được thanh toán nên chị H1 đồng ý giao dịch, thì Hải N1 và Tất N cầm lấy thẻ cào rồi quay lại đón T1 và nói “Lấy được năm trăm nghìn” (ý Tất N và H nói đã lừa lấy được 500.000 đồng tiền thẻ cào). Sau đó, T1 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở H và T đi từ xã T theo đường Q đi qua Cầu R đến thôn A, xã T.
Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày các đối tượng dừng trước ki ốt tạp hóa của chị Nguyễn Thị L2 (Sinh năm 1992, trú tại xã T, huyện T). Tất Nam ngồi trên xe máy ngoài đường chờ còn T1 cùng Hải N1 cầm điện thoại đi vào, T1 hỏi mua của chị L2 01 (một) hộp (cây) thuốc lá Thăng Long và 01 (một) cái bật lửa với giá 127.000 đồng (Một trăm hai mươi bảy nghìn đồng). Khi chị L2 đưa thuốc và bật lửa cho T1 cầm thì Hải Nam yêu cầu chị L2 cung cấp mã QR để chuyển khoản thanh toán tiền, rồi sử dụng thủ đoạn tương tự tạo ra ảnh có nội dung chuyển khoản thành công số tiền là 127.000 đồng (Một trăm hai bảy nghìn đồng) đưa cho chị L2 xem. Khi nhìn thấy, chị L2 tin là các đối tượng đã thanh toán tiền nên đã gật đầu đồng ý. T1 và Hải N1 đi ra xe mô tô rồi Tất N chở T1 và Hải N1 tiếp tục đi theo đường nhựa hướng về thôn L, xã T.
Khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, T1, T và H đi đến ki ốt tạp hóa của ông Nguyễn Hồng S (Sinh năm 1969, trú tại thôn L, xã T) thì T1 và Tất N ngồi ở ngoài xe máy, còn Hải N1 cầm điện thoại đi vào trong quán và hỏi mua 10 thẻ cào V mệnh giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) thì ông S đưa 10 thẻ cào Viettel cho Hải N1 cầm. Sau đó H hỏi mã QR để chuyển tiền, H sử dụng thủ đoạn tương tự tạo ảnh có nội dung chuyển khoản thanh toán thành công số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) rồi đưa cho ông S xem thì ông S gật đầu đồng ý. Hải Nam cầm thẻ điện thoại đi ra vị trí T1 và Tất N đứng và nói “Lấy được năm trăm nghìn” (ý nói đã lừa chủ quán tạp hóa lấy được 500.000 đồng tiền thẻ cào). Sau đó, Tất N chở T1 cùng Hải N1 tiếp tục đi đến xã T, dừng trước quán tạp hóa của chị Trần Thị Kim L1 (Sinh năm 1978, trú tại thôn T, xã T (nay là thị trấn D), huyện T, tỉnh Nghệ An). Tại đây, Tất N ngồi trên xe máy chờ ở trước quán, còn T1 cùng Hải N1 đi vào quán, Hải N1 hỏi mua của chị L1 12 thẻ cào V mệnh giá mỗi thẻ 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) và T1 hỏi mua 01 (một) chai nước hoa với giá 135.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Sau khi nhận được số hàng thì Hải N1 yêu cầu chị L1 cung cấp mã QR để chuyển khoản thanh toán tiền, rồi tiếp tục sử dụng thủ đoạn tương tự tạo ra ảnh có nội dung chuyển khoản thành công số tiền 1.335.000 đồng (Một triệu ba trăm ba lăm nghìn đồng) rồi cho chị L1 xem. Chị L1 tin tưởng nói “Ừ” và đi vào phía trong nhà để kiểm tra vì điện thoại của chi Luyên để ở trong nhà, khi chị L1 đi ra thì T1 và H đã đi ra xe mô tô nơi Tất Nam đang đứng rồi cả ba đối tượng rời đi theo đường nhựa hướng lên xã P rồi đi theo đường Q đi về xã H vào quán Internet để chơi game. Sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội, các đối tượng chia tài sản chiếm đoạt được để sử dụng hết (H và Tất Nam mỗi người được chia số thẻ cào có giá trị 700.000 đồng, T1 được chia số thẻ cào có giá trị 800.000 đồng rồi trao đổi với những người chơi game trong quán nét để lấy tiền mặt và sử dụng để chơi game và tiêu xài cá nhân hết, các tài sản khác chiếm đoạt được là thuốc lá, bật lửa thì các đối tượng cùng nhau sử dụng hết, còn 01 lọ nước hoa các đối tượng chưa sử dụng hết đã giao nộp khi xin đầu thú.
Sau khi kiểm tra tài khoản không nhận được tiền của các đối tượng thì các bị hại là chị Trần Thị Kim L1, chị Đậu Thị H1, ông Nguyễn Hồng S và chị Nguyễn Thị L2 đã đến trình báo tại Công an huyện T.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã triệu tập Đặng Văn T1, Nguyễn Tất N và Nguyễn Hải N1 đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, biết không thể che dấu hành vi phạm tội của mình nên các đối tượng đã tự nguyện xin đầu thú, đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của mình vào ngày 12/11/2024 tại huyện T.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Nghệ An đã lập biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú và tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động và 01 xe mô tô quan theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Yêu cầu định giá đối với 20 thẻ cào Viettel mệnh giá 50.000 đồng; 12 thẻ cào V mệnh giá 100.000 đồng; 01 cây thuốc lá điều Thăng Long có 10 gói nỗi gói chứa 20 điếu thuốc; 01 cái bật lửa vỏ nhựa màu đỏ; 01 chai nước hoa nhãn hiệu Yarmy dung tích 10ml. Tại kết luận định giá số 57/KL-ĐG ngày 09/12/2024, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: “20 thẻ cào V mệnh giá 50.000 đồng; 12 thẻ cào V mệnh giá 100.000 đồng; 01 cây thuốc lá điều Thăng Long có 10 gói nỗi gói chứa 20 điếu thuốc; 01 cái bật lửa vỏ nhựa màu đỏ; 01 chai nước hoa nhãn hiệu Yarmy dung tích 10ml có tổng giá trị là: 2.462.000 đồng (Bằng chữ: hai triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn đồng)”.
Tại bản Cáo trạng số 35/VKS-HS ngày 28/02/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đã truy tố Đặng Văn T1, Nguyễn Tất N và Nguyễn Hải N1 về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Đặng Văn T1, Nguyễn Tất N và Nguyễn Hải N1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử.
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T1, Nguyễn Tất N và Nguyễn Hải N1 phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng khoản 1, Điều 174 điểm b, s. i khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Đặng Văn T1.
Áp dụng khoản 1, Điều 174 điểm b, s,i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Tất N.
Áp dụng khoản 1, Điều 174 điểm b, s. i khoản 1, Điều 51, Điều 90, Điều 91 Điều 100 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Hải N1.
Xử phạt Đặng Văn T1 mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Xử phạt: Nguyễn Tất N mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Xử phạt: Nguyễn Hải N1 mức án từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Nguyễn Tất N, Đặng Văn T1 và người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Hải N1 bồi thường các khoản thiệt hại về tài sản cụ thể như sau:
Bồi thường cho chị Trần Thị Kim L1 số tiền 1.335.000 đồng.
Bồi thường cho chị Đậu Thị H1 số tiền 500.000 đồng.
Bồi thường cho anh Nguyễn Hồng S số tiền 500.000 đồng
Về vật chứng: Tuyên bố tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động. Tịch thu tiêu huỷ 01 lọ nước hoa.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của bà Võ Thị H3 là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hải N1. Không tranh luận gì về mặt tội danh cũng như điều luật áp dụng chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo phạm tội ở lứa tuổi vị thành niên cho nên còn hạn chế về mặt nhận thức pháp luật. Tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, Gia đình bị cáo có ông bà nội là người có công với nước cho nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị cáo ở mức thấp nhất so với đề nghị của Đại diện viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố các biện pháp, hành vi và quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều tuân theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay các bị cáo Đặng Văn T1, Nguyễn Tất N và Nguyễn Hải N1 hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ để khẳng định;
Trong khoảng thời gian từ 14 giờ 00 phút đến 15 giờ 30 ngày 12/11/2024, tại các xã T, T, T, T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Đặng Văn T1, Nguyễn Tất N và Nguyễn Hải N1 đã có hành vi gian dối chiếm đoạt 12 thẻ điện thoại và 01 chai nước hoa trị giá 1.335.000 đồng (một triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng) của chị Trần Thị Kim L1 (sinh năm 1978, trú tại thôn T (xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; 10 thẻ điện thoại trị giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) của chị Đậu Thị H1 (sinh năm 1994, trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An); 10 thẻ điện thoại trị giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) của ông Nguyễn Hồng S( sinh năm 1969, trú tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An); 01 cây thuốc lá Thăng Long và 01 cây bật lửa trị giá 127.000 đồng (một trăm hai mươi bảy nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị L2 (sinh năm 1992, trú tại thôn G, xã T (nay là xã M), huyện T, tỉnh Nghệ An.
Tổng số tiền mà các bị cáo Đặng Văn T1, Nguyễn Tất N và Nguyễn Hải N1 đã chiếm đoạt của các bị hại là 2.462.000 đồng (Hai triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Việc các bị cáo Đặng Văn T1, Nguyễn Tất N và Nguyễn Hải N1 có hành vi gian dối trong việc sử dụng phần mềm chuyển tiền qua tài khoản giả nhằm chiếm đoạt của các bị hại với số tiền 2.462.000 đồng đã phạm vào khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự nên Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Cho nên cần xét xử nghiêm, C lên cho các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
[3] Về nhân thân, vai trò, mức độ phạm tội và các tình tiết liên quan đến trách nhiệm hình sự:
Trong vụ án này có đồng phạm. Về vai trò cũng như nhân thân của các bị cáo là khác nhau:
Đối với bị cáo Đặng Văn T1 là người khởi xướng và rủ rê các bị cáo khác phạm tội cho nên phải chịu vai trò chính trong vụ án án. Trong đó có bị cáo Nguyễn Hải N1 là người dưới 18 tuổi cho nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu đã từ 02 lần bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính đến nay chưa chấp hành cho nên xét thấy thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo là quá kém. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ sau: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thật thà khai báo, tỏ rã ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên đã đầu thú, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, trước khi mở phiên toà đã nộp số tiền để khắc phục thiệt hại cho người bị hại, gia đình có ông, bà nội là người có công với nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Đối với bị cáo Nguyễn Tất N là người thực hiện hành vi một cách tích cực. Bị cáo có nhân thân xấu đã từ 02 lần bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính đến nay chưa chấp hành cho nên xét thấy thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo là quá kém. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ sau: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên đã đầu thú, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, trước khi mở phiên toà đã nộp số tiền để khắc phục thiệt hại cho người bị hại, gia đình có ông nội là người có công với nước được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng, có bố đẻ được tặng thưởng danh hiệu Chiến sỹ giỏi, cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính khaon hồng của pháp luật.
Đối với bị cáo Nguyễn Hải N1 là người thực hiện hành vi tích cực. Cho nên cũng cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ sau: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thật thà khai báo, tỏ rã ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên đã đầu thú, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, trước khi mở phiên toà đã nộp số tiền để khắc phục thiệt hại cho người bị hại, khi phạm tội đang ở lứu tuổi vị thành niên nên mặt nhận thức pháp luật còn hạn chế, cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính khaon hồng của pháp luật.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình thiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho nên chỉ cần lên cho bị cáo mức án cải tạo không giam giữ và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý giám sát cũng đủ điều kiện để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo đang ở lứa tuổi vị thành niên cho nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra người người bị hại chị Trần Thị Kim L1 yêu cầu các bị cáo bồi thường cho mình số tiền 1.335.000 đồng; chị Đậu Thị H1 yêu cầu các bị cáo bồi thường cho mình số tiền 500.000 đồng; anh Nguyễn Hồng S yêu cầu các bị cáo bồi thường cho mình số tiền 500.000 đồng.
Tại phiên toà hôm nay các bị cáo chấp nhận yêu cầu này và thống nhất số tiền bồi thường như nhau.
Xét thấy sự thoả thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật. Cho nên cần buộc các bị cáo bồi thường cho những người bị hại số tiền này: Cụ thể:
Bồi thường cho chị Trần Thị Kim L1 số tiền 1.335.000 đồng.
Bồi thường cho chị Đậu Thị H1 số tiền 500.000 đồng.
Bồi thường cho anh Nguyễn Hồng S số tiền 500.000 đồng
[5] Về vật chứng vụ án. Quá trình điều tra có thu giữ 01 điện thoại của bị cáo. Xét thấy chiếc điện thoại này là công cụ, phương tiện mà cac bị cáo sử dụng để thực hiện cho hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là đúng quy định của pháp luật.
Đối với chai nước hoa mà các bị cáo đã lừa của chị Trần Thị L1 hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này đối với chiếc xe máy mà các bị cáo sử dụng để làm phương tiện đi lại trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội là của ông Nguyễn Tất H. Quá trình bị cáo Nguyễn Tất N sử dụng chiếc xe máy này thì ông Nguyễn Tất H không biết cho nên cơ quan điều tra đã trả lại lại cho ông Nguyễn Tất H là đúng quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1, Điều 174 điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với Nguyễn Tất N.
Căn cứ vào: khoản 1, Điều 174 điểm b, s. i, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với Đặng Văn T1.
Căn cứ vào: khoản 1, Điều 174 điểm b, s, i khoản 1, Điều 51, Điều 90, Điều 91 Điều 100 Bộ luật hình sự,, Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với Nguyễn Hải N1.
Tuyên bố Nguyễn Tất N, Nguyễn Hải N1 và Đặng Văn T1 phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Xử phạt Đặng Văn T1; 12 ( Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/11/2024 đến ngày 17/11/2024.
Xử phạt: Nguyễn Tất N; 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/11/2024 đến ngày 17/11/2024.
Xử phạt: Nguyễn Hải N1 ; 09 ( Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa quản lý giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584. 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự. Buộc Đặng Văn T1, Nguyễn Tất N, Nguyễn Hải N1 có trách nhiệm bồi thường cho những người bị hại sau:
Bồi thường cho chị Trần Thị Kim L1 số tiền 1.335.000 đồng.
Bồi thường cho chị Đậu Thị H1 số tiền 500.000 đồng.
Bồi thường cho anh Nguyễn Hồng S số tiền 500.000 đồng
Nhưng được trừ vào số tiền mà các bị cáo đã nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0012405, 0012406, ngày 21/3/2025 và biên lai thu tiền số 0012404, ngày 19/3/2025. Các bị cáo đã bồi thường xong.
Về vật chứng vụ án: Tuyên bố tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6s Plus.
Tuyên bố tịch thi tiêu huỷ 01 lọ nước hoa.
Đặc điểm chi tiết các vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025 giữu Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương.
Về án phí: Buộc các bị cáo Đặng Văn T1, Nguyễn Tất N và Nguyễn hải N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Trường Giang |
Bản án số 29/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 29/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn Tiến và đồng bọn
