|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC Số: 29/2025/HSST Ngày: 20 - 3 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Xuân Thiều
Ông Nguyễn Duy Phương
Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thanh Phương - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bồ Đức Trọng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2025/HSST ngày 26/02/2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/HSST-QĐ ngày 05/3/2025 đối với bị cáo:
TRẦN NGỌC M, sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Phước; Tên gọi khác: Không;
HKTT: Tổ B, ấp S, xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Ấp L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Công nhân; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn T và bà: Đỗ Thị Kim N; Vợ: Nguyễn Thị Xuân M1; Con: Có 02 người sinh năm 2022 và sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 137/2018/HSST ngày 28/9/2018. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 6/2024, Trần Ngọc M nảy sinh ý định mua pháo nổ về để sử dụng và bán lại trong dịp Tết Nguyên đán 2025. M liên lạc với người đàn ông tên C (không rõ nhân thân lai lịch) nhà tại huyện B, tỉnh Bình Phước. Qua trao đổi, M đồng ý mua của C 07 bệ pháo hoa nổ, loại 49 ống pháo với giá tiền 600.000 đồng/01 bệ và hẹn đến địa bàn huyện B để lấy pháo. Sau đó, M điều khiển xe mô tô biển số 93C1- 464.23 đến địa bàn xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước để lấy pháo. Khi đến lô cao su, M gặp C điều khiển xe mô tô (không rõ nhãn hiệu, biển số) chở theo 01 túi nilon màu đen bên trong có chứa 07 bệ pháo. M thanh toán cho C số tiền 4.200.000 đồng và vận chuyển 07 bệ pháo về nhà tại ấp L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước để cất giấu và tìm kiếm người mua để bán lại kiếm lời. Trong quá trình làm công nhân tại Công ty TNHH Y thuộc KCN M - Hàn Quốc thì M chào bán pháo.
Đến khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 28/12/2024, M đang làm việc thì có một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0966.755.xxx gọi cho M để mua pháo hoa nổ thì M đồng ý bán. Qua trao đổi, M đồng ý bán cho người này 06 bệ pháo hoa nổ với giá tiền 800.000 đồng/bệ và thoả thuận đến 19 giờ cùng ngày, M sẽ vận chuyển pháo đến địa phận phường H, thị xã C để giao, thanh toán tiền khi nhận hàng.
Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, M tan ca làm, về đến nhà tại ấp L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước, rồi lấy 01 bệ pháo hoa nổ cất vào trong cốp xe mô tô biển số 93C1- 464.23; 05 bệ pháo hoa được cất trong 01 túi xách màu đen có chữ ADIDAS và để ở gác baga xe, còn 01 bệ pháo thì cất vào tủ bếp để sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán. Khoảng 18 giờ, do giao pháo trên địa bàn thị xã C nên M rủ vợ tên Nguyễn Thị Xuân M1 và 02 con nhỏ cùng đi để mua đồ Tết. Khi lên xe, chị M1 có hỏi về nguồn gốc của túi xách thì được M cho biết là của bạn, mang đến thị xã C để giao cho bạn. Sau đó M điều khiển xe mô tô biển số 93C1-464.23 chở chị M1, 02 con cùng 06 bệ pháo nổ đi đến đoạn đường thuộc tổ I, khu phố A, phường H, thị xã C để giao pháo. Khi lưu thông đến đoạn đường QL 13 thuộc tổ I, khu phố A, phường H, thị xã C thì M cho chị M1 cùng 02 con xuống xe và yêu cầu đứng đợi ở đầu đường. Sau đó, M điều khiển xe mô tô biển số 93C1-464.23 đi vào trong đoạn đường trên cách vị trí M1 chờ khoảng 2km thì dừng xe. M lấy túi xách chứa có 05 bệ pháo hoa nổ để vào hàng cao su số 3 trong vườn cao su do bà Võ Thị H, sinh năm 1981, nơi ở hiện tại: Khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước và ra xe ngồi đợi người thanh niên đến lấy pháo. Khi M đang ngồi chờ thì bị Công an phường H tuần tra đảm bảo an ninh trật tự phát hiện trong cốp xe mô tô 93C1-464.23 cất giấu 01 bệ pháo có kích thước 15cm x 15cm x 12cm, được đúc nguyên khối, bên trong có 49 lỗ tròn đường kính 1,7cm, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh, dán giấy nhiều màu sắc, ghi chữ nước ngoài, ký hiệu T4049. Túi balo màu đen có chứa 05 bệ pháo, mỗi bệ có kích thước 15cm x 15cm x 12cm, được đúc nguyên khối, bên trong có 49 lỗ tròn đường kính 1,7cm, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh, dán giấy nhiều màu sắc, ghi chữ nước ngoài, ký hiệu T4049. Khám xét khẩn cấp nơi ở của M, Cơ quan Điều tra thu giữ 01 bệ pháo có kích thước 15cm x 15cm x 12cm, được đúc nguyên khối, bên trong có 49 lỗ tròn đường kính 1,7cm, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh, dán giấy nhiều màu sắc, ghi chữ nước ngoài. Tất cả có nguồn gốc, xuất xứ từ nước ngoài, không có hoá đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ. (Bút lục 65-70)
Kết luận giám định số 1508/KL-KTHS ngày 02/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B xác định 07 bệ pháo hình hộp chữ nhật (kích thước 15cm x 15cm x 12cm), bên ngoài bọc giấy nhiều màu, có chữ “T4049”, được đúc nguyên khối, bên trong có 49 lỗ tròn, đường kính 1,7cm, có 01 đầu dây màu xanh bên ngoài là pháo nổ. Tổng khối lượng là 9,65kg.
Bản cáo trạng số 35/CTr-VKSCT, ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Trần Ngọc M về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử các bị cáo theo tội danh đã truy tố: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 38, 50, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về vật chứng: Thu giữ 01 xe mô tô 93C1-464.23, nhãn hiệu HONDA, loại VISON, màu sơn trắng đen, của chị Nguyễn Thị Xuân M1 nên đã trả lại cho chủ sở hữu; 9,65kg pháo, sau khi giám định còn 6,9kg đã tịch thu tiêu huỷ theo quy định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, số imei: 861114060235501, màu đen sử dụng vào phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước; 01 ba lô bên ngoài ghi chữ ADIDAS của Trần Ngọc M không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố và không tranh luận chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 28/12/2024, tại khu vực tổ I, khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, Trần Ngọc M buôn bán hàng cấm lưu hành (pháo) cho thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch, mục đích mua bán để hưởng tiền chênh lệch, tiêu xài cá nhân. Số hàng cấm lưu hành (pháo hoa) được giám định thu giữ khi bị bắt quả tang và tại nhà của Trần Ngọc M là 9,65kg. Hành vi của Trần Ngọc M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 35/CT-VKSCT, ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trần Ngọc M về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là: Xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với một số loại hàng hóa cấm kinh doanh, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng, trong vụ án này là pháo hoa nổ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[3.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
[3.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có con nhỏ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong thời điểm giáp Tết Nguyên đán, thời điểm mà cả nước đang tập trung phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật, trong đó mua bán, tàng trữ trái phép hàng cấm là pháo hoa nổ đã có nhiều chỉ thị của các ngành, các cấp quán triệt cần phải xử lý nghiêm. Bị cáo vì hám lợi nên đã phạm tội, do đó cần xử lý bị cáo mức án nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về điều luật áp dụng có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù là cao so với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.
[4]. Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 xe mô tô 93C1-464.23, nhãn hiệu HONDA, loại VISON, màu sơn trắng đen, của chị Nguyễn Thị Xuân M1. Chị M1 và M cùng sử dụng xe mô tô 93C1-464.23 làm phương tiện đi lại. Ngày 28/12/2024, M sử dụng xe mô tô 93C1-464.23 làm phương tiện vận chuyển hàng cấm là pháo nổ thì chị M1 không biết nên Cơ quan Điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chị M1 nên HĐXX không xem xét.
Đối với 9,65kg pháo nổ sau khi giám định còn 6,9kg. Đây là hàng hóa cấm lưu hành, Cơ quan Điều tra đã tiến hành tiêu hủy theo quy định nên HĐXX không xem xét.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, số imei: 861114060235501, màu đen của M sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 ba lô bên ngoài ghi chữ ADIDAS của M không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
[5]. Các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với người đàn ông tên C bán pháo cho M, Cơ quan Điều tra đã tiến hành xác minh, thu thập thông tin, tài liệu. Tuy nhiên không làm rõ được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với với số thuê bao 0966.755.229 liên lạc với M để mua pháo: Cơ quan đã áp dụng các biện pháp để tra cứu thông tin nhưng chưa nhận được kết quả trả lời. Cơ quan Điều tra tiếp tục gửi văn bản, khi có kết quả trả lời sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thị Xuân M1: Việc M vận chuyển, buôn bán hàng cấm thì M1 không biết, không tham gia nên không đủ cơ sở xem xét vai trò đồng phạm về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự.
[6]. Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc M 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày 28/12/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, số imei: 861114060235501, màu đen.
Tịch thu tiêu huỷ 01 ba lô bên ngoài ghi chữ ADIDAS.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Trần Ngọc M phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hồ Thị Xuân Thiều - Nguyễn Duy Phương |
Lê Văn Ngọc |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Ngọc |
Bản án số 29/2025/HSST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự về tội buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 29/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc M
