Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-ST

Ngày: 25 – 3 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Long.

Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Nho;

Ông Phan Minh Á;

Ông Đoàn Văn Tri.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Trung T, sinh ngày 15/12/1981 tại thành phố Đà Nẵng; giới tính: nam; nơi cư trú: Tổ A, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: kinh doanh; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1956 và bà Đoàn Thị Lệ H, sinh năm 1959; có vợ là Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1989 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 22/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q.

2. Vũ Quang T2, sinh ngày 14/12/1984 tại thành phố H; giới tính: nam; nơi thường trú: Tập thể quy hoạch rừng, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Số I N, tổ A phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: kinh doanh, Giám đốc Công ty TNHH L1; con ông Vũ Văn T3, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1955; có vợ là Đỗ Hải L, sinh năm 1982 và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 24/4/2024, thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh ngày 25/9/2024.

Tất cả các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung T theo yêu cầu của bị cáo: Luật sư Trương Ngọc Á – Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Đ. Địa chỉ: Số A L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Vũ Quang T2 theo yêu cầu của bị cáo: Luật sư Đào Duy K và Luật sư Nguyễn Thanh C, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

* Bị hại: Công ty TNHH M1.WOOD; địa chỉ: Lô A, Cụm C - Chợ Đ, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thiên M, sinh năm 1985; Chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Tạ Trương B1, sinh năm 1982, trú tại: Số B T, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  2. Ông Phan Viết T4, sinh năm 1975, trú tại: Số B B, tổ A, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  3. Ông Lê Tấn T5, sinh năm 1989, trú tại: Số A A, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  4. Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1989, trú tại: Phòng I, số A N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  5. Công ty Cổ phần Đ; địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1981; chức vụ: giám đốc. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty cổ phần Đ (gọi tắt là Công ty Đ; địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam) được Phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 13/7/2017 với mã số doanh nghiệp: 4001115970; vốn điều lệ 50 tỷ đồng; người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Trung T (sinh ngày 15/12/1981; nơi thường trú: Tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng), chức vụ: Giám đốc. Ngành nghề kinh doanh chính: kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng đi thuê...

Khoảng cuối năm 2021 đầu năm 2022, Nguyễn Trung T – Giám đốc Công ty Đ trao đổi với Vũ Quang T2 về việc T2 sẽ hỗ trợ phát triển Công ty Đ tại các tỉnh phía Bắc, đổi lại T2 sẽ được đứng tên 10% cổ phần của Công ty Đ (chỉ đứng tên trên hồ sơ nhưng không đóng góp vốn, nếu quả trình kinh doanh thuận lợi sẽ được hưởng 10% lợi nhuận), sau khi thống nhất Trực nhờ bà Nguyễn Thị Ngọc T1 (sinh ngày 13/8/1989; trú tại Phòng 9C21, Số A N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; là vợ của T), ông Phan Viết T4 (sinh ngày 10/10/1975; trú tại Số B B, Tổ A, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng) ký biên bản đại hội cổ đông để lập các thủ tục tăng vốn điều lệ lên 1.000 tỷ đồng, ngày 17/01/2022 Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Q cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thay đổi lần 1 đối với Công ty Đ. Danh sách cổ đông sau khi tăng vốn gồm có 04 cổ đông: ông Phan Viết T4, ông Nguyễn Trung T, ông Lê Tấn T5, ông Vũ Quang T2.

Ngoài nội dung hỗ trợ phát triển Công ty Đ thì T và T2 còn trao đổi việc hỗ trợ vay vốn cho Công ty TNHH M1.WOOD (viết tắt là Công ty M2) tại Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (viết tắt là Quỹ SMEDF) hoặc ngân hàng được quỹ ủy thác, thông qua mối quan hệ quen biết nên T có nhận thực hiện các thủ tục để ông Tạ Trương B1 (sinh ngày 24/3/1982; trú tại Số B T, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty M2) được vay vốn. Ban đầu, T yêu cầu ông Tạ Trương B1 cung cấp hồ sơ chứng minh khả năng vay của Công ty và chuyển số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) để xem xét có thể hỗ trợ vay được hay không. Sau khi nhận hồ sơ và số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) từ ông Tạ Trương B1 dùng tài khoản cá nhân chuyển khoản cho Nguyễn Trung T thì T giữ lại số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), đồng thời chuyển hồ sơ và số tiền 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng) cho T2 để xem xét hỗ trợ vay. Sau khi nhận hồ sơ và tiền thì T2 trao đổi lại với T là có thể hỗ trợ vay vốn cho Công ty M2 tại Quỹ SMEDF hoặc ngân hàng được quỹ ủy thác, đồng thời gửi bản dự thảo hợp đồng (file mềm) qua Z cho T để xem xét ký kết hợp đồng với Công ty M2.

Ngày 14/01/2022, T đại diện Công ty Đ ký kết hợp đồng số 14012022.HĐGKV.TTKHN với Công ty M2, nội dung: Công ty Đ hỗ trợ Công ty M2 vay vốn tại Quỹ SMEDF hoặc ngân hàng được quỹ ủy thác với số tiền vay từ 21 tỷ đến 30 tỷ đồng, thời hạn thực hiện hợp đồng đến hết quý 1/2022, chi phí thực hiện hợp đồng là 2 tỷ đồng, số tiền tạm ứng thực hiện hợp đồng là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng), nếu không thực hiện được hợp đồng thì Công ty Đ hoàn trả 510.000.000 đồng (năm trăm mười triệu đồng) cho Công ty M2, cấn trừ chi phí lập hồ sơ và thẩm định dự án là 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng), thời hạn trả lại tiền không quá 7 ngày kể từ ngày có kết quả cuối cùng của bên quỹ hoặc ngân hàng được quỹ ủy thác.

Thực hiện theo nội dung hợp đồng, Công ty M2 đã chuyển khoản số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) vào tài khoản cá nhân của T, T chuyển số tiền trên đến tài khoản cá nhân của T2. Sau khi nhận tiền thì T và T2 không thực hiện đúng như nội dung hợp đồng đã ký kết là hỗ trợ cho Công ty M2 vay vốn tại Quỹ SMEDF hoặc ngân hàng được quỹ uỷ thác, đến hết thời hạn cam kết theo hợp đồng thì ông Tạ Trương B1 - Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty M2 yêu cầu trả lại tiền do phía Công ty Đ không thực hiện đúng cam kết nội dung hợp đồng, tuy nhiên T và T2 viện dẫn lý do số tiền nhận từ Công ty M2 thì đã nộp cho Quỹ SMEDF, Quỹ là đơn vị thuộc nhà nước muốn rút tiền ra phải có lộ trình, thời gian để không trả lại tiền.

Sau khi nhận số tiền 650.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi triệu đồng) thì T và T2 không sử dụng số tiền trên để xúc tiến hỗ trợ vay vốn cho Công ty M2 theo hợp đồng, không nộp hồ sơ đề nghị vay vốn của Công ty M2 đến Quỹ SMEDF hoặc ngân hàng được quỹ ủy thác mà sử dụng số tiền trên để tiêu xài cá nhân.

Ngày 07/12/2022 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q có Công văn số: 734/CSKT gửi đến Quỹ SMEDF đề nghị cung cấp thông tin về việc Quỹ SMEDF có tiếp nhận hồ sơ vay của Công ty TNHH M1.WOOD hay không. Tại văn bản số 272/QDNNVV-HTDN ngày 13/12/2022 của Quỹ SMEDF trả lời như sau: tính đến ngày 13/12/2022 Quỹ SMEDF không nhận được hồ sơ vay của Công ty TNHH M1.WOOD (Mã số doanh nghiệp: 4001218912; địa chỉ: lô A Cụm C Được, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam).

Ngày 17/01/2024 Cơ quan CSĐT gửi Công văn số: 157/CSKT đến Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Q đề nghị cung cấp thông tin Công ty Cổ phần Đ có đăng ký ngành nghề kinh doanh: tư vấn xúc tiến vay vốn, ngành nghề tư vấn và dịch vụ khác liên quan đến việc xúc tiến vay vốn hay không. Tại Công văn số 246/SKHĐT-ĐKKD ngày 11/3/2024 của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Q trả lời như sau: Công ty Cổ phần Đ không đăng ký ngành nghề kinh doanh: tư vấn xúc tiến vay vốn, ngành nghề tư vấn và dịch vụ khác liên quan đến việc xúc tiến vay vốn.

Tiến hành làm việc với các cổ đông Công ty Đ gồm: ông Lê Trấn T6, ông Phan Viết T4 không biết việc Nguyễn Trung T sử dụng pháp nhân của Công ty Đ để ký kết hợp đồng số 14012022.HĐGKV.TTKHN với Công ty M2 và nhận số tiền 650.000.000 đồng.

Hiện nay, Nguyễn Trung T và Vũ Quang T2 đã chuyển trả cho Công ty M2 số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng); trong đó T chuyển trả 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), T2 chuyển trả 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), Công ty M2 đã nhận đủ số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác; đối với số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) trước đó ông Tạ Trương B1 dùng tài khoản cá nhân chuyển cho Nguyễn Trung T, ông B1 không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI: 353812082084758 của Vũ Quang T2;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu xanh của Nguyễn Trung T.

Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Tại bản Cáo trạng số: 120/CT-VKSQN-P3 ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố các bị cáo Nguyễn Trung T, Vũ Quang T2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam thực hành quyền công tố Nhà nước luận tội, giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Trung T, Vũ Quang T2, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trung T, Vũ Quang T2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm a khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 7 năm đến 8 năm tù.

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm a khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Vũ Quang T2 từ 6 năm đến 7 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) trước đó ông Tạ Trương B1 dùng tài khoản cá nhân chuyển cho Nguyễn Trung T, ông B1 không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng và các nội dung liên quan: Đề nghị giải quyết theo nội dung cáo trạng đã đề cập.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung T trình bày luận cứ: Thống nhất về tội danh, khung hình phạt áp dụng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xem xét, đánh giá các tình tiết sau: Bị cáo T do tin tưởng bị cáo T2 có khả năng thực hiện được việc hỗ trợ cho Công ty M2 vay vốn nên mới ký hợp đồng khoán việc với Công ty M2 để hưởng tiền dịch vụ; sau khi ký hợp đồng bị cáo T đã lập giấy uỷ quyền cho bị cáo T2 thực hiện công việc trên, bị cáo T không trực tiếp tham gia; toàn bộ số tiền mà bị hại chuyển cho bị cáo T thì bị cáo T đã chuyển cho bị cáo T2 gần như toàn bộ, chỉ giữ lại 5.000.000 đồng chi phí đi lại; bị cáo T không có ý định chiếm đoạt số tiền mà bị hại chuyển tạm ứng trước; sau khi thực hiện không được công việc đã thoả thuận tại hợp đồng và bị hại đòi lại tiền thì bị cáo đã yêu cầu bị cáo T2 phải hoàn trả lại đủ tiền để đưa cho bị hại nhưng bị cáo T2 đã đưa ra thông tin gian dối trì hoãn việc trả tiền do vậy bị cáo không có tiền để trả lại cho bị hại theo hợp đồng; các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có tổ chức; quá trình tố tụng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã khắc phục toàn bộ thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ những phân tích trên, nhận thấy trong vụ án này bị cáo T thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể cho bị cáo T2 nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị cáo mức hình phạt dưới mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên toà. Ngoài ra, đề nghị tuyên buộc bị cáo T2 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bị cáo T số tiền 100.000.000 đồng mà bị cáo T đã bồi thường trước cho bị hại thay cho bị cáo T2.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Vũ Quang T2 trình bày luận cứ: Thống nhất về tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam truy tố và luận tội của Kiểm sát viên. Trong vụ án này bị cáo T là người khởi xướng, là người trực tiếp ký hợp đồng với Công ty M2 và thoả thuận về số tiền được hưởng; bị cáo T là người nhận tiền trực tiếp từ Công ty M2 chứ không phải bị cáo T2; khi bị cáo T2 chuyển trả số tiền 500.000.000 đồng cho bị cáo T để trả lại cho bị hại thì bị cáo T đã trì hoãn việc trả tiền cho bị hại dẫn đến bị hại bức xúc không rút đơn tố cáo; các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có tổ chức; quá trình tố tụng bị cáo T2 có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã khắc phục toàn bộ thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo T là người khởi xướng, bị cáo T2 là đồng phạm giúp sức không đáng kể nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự như đề nghị của K1 sát viên, xử bị cáo mức hình phạt dưới mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên toà.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trung T, Vũ Quang T2 không bào chữa, tranh luận bổ sung và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trung T, Vũ Quang T2 khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Nguyễn Trung T và Vũ Quang T2 không làm việc tại Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc bất kỳ tổ chức tín dụng nào, từ trước đến nay cũng chưa thực hiện công việc hỗ trợ vay vốn cho tổ chức nào tại Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; ngoài ra Công ty Cổ phần Đ (viết tắt là Công ty Đ) cũng không đăng ký ngành nghề kinh doanh tư vấn xúc tiến vay vốn, ngành nghề tư vấn và dịch vụ khác liên quan đến vay vốn nhưng T và T2 cùng bàn bạc, thống nhất đưa ra thông tin gian dối là có thể hỗ trợ vay vốn tại Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để ông Tạ Trương B1 (Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty M2) tin tưởng nhờ bị cáo T giúp Công ty M2 vay vốn. Vũ Quang T2 là người soạn thảo hợp đồng (gửi file mềm qua Z) cho Nguyễn Trung T để T xem xét sửa và gửi cho ông B1. Sau khi thống nhất, ngày 14/01/2022, Nguyễn Trung T lấy pháp nhân Công ty Đ ký kết hợp đồng với Công ty M2 với nội dung: Công ty Đ hỗ trợ Công ty M2 vay vốn tại Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc ngân hàng được quỹ uỷ thác với số tiền vay từ 20 tỷ đến 30 tỷ đồng, thời hạn thực hiện hợp đồng đến hết quý I/2022, chi phí hợp đồng là 2 tỷ đồng, số tiền tạm ứng hợp đồng là 600.000.000 đồng, nếu không thực hiện hợp đồng thì Công ty Đ hoàn trả 510.000.000 đồng cho Công ty M2, cấn trừ chi phí lập hồ sơ và thẩm định dự án là 90.000.000 đồng, thời hạn trả lại tiền không quá 7 ngày kể từ ngày có kết quả cuối cùng của bên quỹ hoặc ngân hàng được quỹ uỷ thác. Sau khi ký hợp, Công ty M2 đã chuyển cho Nguyễn Trung T số tiền 650.000.000 đồng, T chuyển cho T2 645.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Trung T và Vũ Quang T2 không thực hiện được việc hỗ trợ vay vốn cho Công ty M2, không trả lại tiền cho Công ty M2 theo hợp đồng, chiếm đoạt số tiền 650.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

Hành vi và hậu quả nêu trên của các bị cáo Nguyễn Trung T, Vũ Quang T2 đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bản Cáo trạng truy tố số: 120/CT-VKSQN-P3 ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì thấy: Quyền sở hữu tài sản của công dân, tổ chức được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do đó, bất kỳ người nào có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản đều bị pháp luật trừng trị. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra không những trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, tạo ra tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án thì thấy:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trước và trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có sự bàn bạc, trao đổi, thống nhất với nhau cùng thực hiện tội phạm thể hiện ở việc trao đổi lập dự thảo hợp đồng, khi bị đòi lại tiền đã cùng dùng thủ đoạn gian dối để che đậy, trốn tránh việc trả lại tiền nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

  • Các bị cáo đã trả lại cho bị hại số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu đồng) nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Bị cáo Nguyễn Trung T: không có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; hoàn cảnh gia đình khó khăn (là lao động chính trong gia đình; con còn nhỏ; cha là Công an về hưu, bị tại nạn nặng đang điều trị); gia đình có công cách mạng (có ông nội Nguyễn Văn C1, bà nội Phan Thị T7 là Liệt sỹ); bị hại có đơn xin rút tố cáo và xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Bị cáo Vũ Quang T2: không có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; hoàn cảnh gia đình khó khăn (là lao động chính trong gia đình; con còn nhỏ); bị hại có đơn xin rút tố cáo và xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về loại hình phạt áp dụng: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm theo như đề nghị của Kiểm sát viên. Do hoàn cảnh các bị cáo khó khăn, hiện đang chấp hành án phạt tù nên không phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

Về vai trò thực hiện tội phạm: Bị cáo T là người khởi xướng, là người trực tiếp thoả thuận ký hợp đồng và nhận tiền của bị hại để chuyển cho bị cáo T2 nên bị cáo T phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo T2. Bị cáo Thái giữ vai trò thực hành tội phạm tích cực, là người chiếm hưởng phần lớn số tiền của bị hại bị chiếm đoạt nên cũng phải chịu mức hình phạt tương xứng.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI: 353812082084758 của Vũ Quang T2. Xét đây là vật chứng dùng để phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu xanh của Nguyễn Trung T. Xét đây là vật chứng dùng để phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước

[7] Những vấn đề liên quan khác:

  • Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Trung T và Luật sư bào chữa cho bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo T2 phải hoàn trả lại cho bị cáo T số tiền 100.000.000 đồng mà bị cáo T2 đã chiếm hưởng của bị hại và bị cáo T đã bồi thường thay trước cho bị hại. Bị cáo T2 không đồng ý trả lại số tiền này mà cho rằng sau khi nhận tiền của bị cáo T chuyển, bị cáo T2 đã chi phí cho việc lập hồ sơ, thẩm định ban đầu và chi phí cho các cuộc ăn uống khi bị cáo T ra Hà Nội, tuy nhiên tại phiên toà bị cáo T không cung cấp được tài liệu để chứng minh các chi phí trên. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định tách nội dung này để dành quyền khởi kiện cho các bị cáo T2 và T trong vụ án dân sự khác.
  • Đối với các cổ đông Công ty Đ gồm: Ông Lê Tấn T5, ông Phan Viết T4 (là người ký tên vào biên bản đại hội cổ đông để đăng ký thay đổi vốn điều lệ của Công ty Đ) không biết việc Nguyễn Trung T sử dụng pháp nhân của Công ty Đ để ký kết hợp đồng số 14012022.HĐGKV.TTKHN với Công ty M2 để chiếm đoạt số tiền 650.000.000 đồng; do đó không có cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự của ông Lê Tấn T5, ông Phan Viết Trịnh.
  • Đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T1: Là người ký tên vào biên bản đại hội cổ đông để đăng ký thay đổi vốn điều lệ của Công ty Đ, bà T1 được Nguyễn Trung T nhờ ký, không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Trung T; do đó không có cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự của bà Nguyễn Thị Ngọc T1.

[8] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Trung T, Vũ Quang T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trung T, Vũ Quang T2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm a khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam ngày 22/4/2024.

- Xử phạt bị cáo Vũ Quang T2 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 24/4/2024 đến ngày 25/9/2024.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI: 353812082084758 của bị cáo Vũ Quang T2 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu xanh của bị cáo Nguyễn Trung T.

(Vật chứng trên hiện được quản lý tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam, theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 12/11/2024).

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Nguyễn Trung T và Vũ Quang T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/3/2025). Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các cơ quan tiến hành tố tụng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Quảng Nam;
  • - Phòng HSNV Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn, Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Tấn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố tội phạm và xử phạt bị cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger