TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày: 25/3/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Bích Hồng.
2. Ông Nguyễn Thanh Vũ.
Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Thế Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại: Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 21/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:
Nông Thị B;
Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04/5/1960 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nông Ích H và bà: Lê Thị T (Đều đã chết); Chồng: Nguyễn Gia L (Đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1987; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 24/12/2024 bị Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C (nay là Phân trại tạm giam khu vực thành phố C, tỉnh Cao Bằng) từ ngày 30/11/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam theo Quyết định tạm giam số 22/HSST-QĐTG ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.
Bị hại:
1. Lê Thị P - sinh năm 1970;
Nơi cư trú: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
2. Nông Thanh N - sinh năm 1966;
Nơi cư trú: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/7/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiếp nhận tin báo tội phạm của bà Lê Thị P (Sinh năm 1970; trú tại: Tổ A, phường S, thành phố C Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) về việc: Ngày 14/7/2024 bà P bị mất số tiền 21.000.000₫ (Hai mươi mốt triệu đồng) trong phòng ngủ tại nhà riêng thuộc tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Cơ quan điều tra Công an thành phố C tiến hành xác minh và xác định được người thực hiện vụ trộm cắp tài sản trên là Nông Thị B (Sinh năm 1960; Trú tại: Tổ A, phường S, thành phố C).
Quá trình xác minh làm rõ sự việc, nhận thấy Nông Thị B có dấu hiệu tinh thần không ổn định, do vậy ngày 27/8/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra quyết định trưng cầu giám định số 1281 để xác định tình trạng sức khỏe tâm thần, khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của Nông Thị B. Tại văn bản ghi nhận quá trình giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 336 ngày 26/11/2024 của V kết luận “Trước, trong khi thực hiện hành vi (ngày 08/7/2024) và tại thời điểm giám định đối tượng Nông Thị B bị bệnh mất trí trong bệnh Alzheimer, khởi phát sớm, mức độ nhẹ, theo Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã F00.0. Tại các thời điểm trên đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Do vậy ngày 29/11/2024 cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nông Thị B.
Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 08/7/2024, Nông Thị B điều khiển xe mô tô của mình, nhãn hiệu Honda Lead màu nâu, biển kiểm soát 29Y3 - 093.43 đi từ phòng trọ thuộc tổ A, phường S, thành phố C đến nhà vợ chồng em trai ruột của B là Nông Thanh N (sinh năm 1966) và em dâu Lê Thị P ở tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Khi đến nơi, B để xe máy ở lề đường gần nhà N rồi đi bộ vào nhà theo lối xuống tầng hầm rồi đi lên cầu thang tầng một thì nhìn thấy vợ chồng N, P đang ăn cơm ở bếp nên B tiếp tục đi lên tầng hai vào phòng ngủ của vợ chồng Ninh P1. Tại đây, B lục túi xách của P1 để ở đầu giường lấy chìa khóa tủ rồi mở tủ lấy toàn bộ số tiền của vợ chồng N, P1 rồi cất chìa khóa tủ vào vị trí cũ, sau đó bước xuống đến cầu thang tầng một, B nhặt một túi nilon màu trắng bọc số tiền vừa trộm được rồi đi ra chỗ để xe mô tô, điều khiển xe đi về phòng trọ. Khi về đến phòng trọ, B kiểm đếm số tiền vừa lấy trộm được 21.000.000đ (hai mươi mốt triệu đồng). B tách riêng 1.000.000đ (một triệu đồng) để chi tiêu cá nhân, số còn lại B giấu sau tấm gương treo trên tường nhà vệ sinh trong phòng trọ. Hồi 08 giờ 00 phút ngày 15/7/2024 Công an thành phố C đến phòng trọ của Nông Thị B để làm rõ sự việc trộm cắp tài sản đã phát hiện và thu giữ số tiền còn lại là 20.855.000 (Hai mươi triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
Xét thấy việc trả lại vật chứng của vụ án không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, ngày 23/01/2025 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại số tiền 20.855.000 (Hai mươi triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn đồng) cho chủ sở hữu là Lê Thị P và Nông Thanh N.
Hành vi của Nông Thị B đã bị cơ quan công an lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại bản Cáo trạng số: 23/CT-VKSTP ngày 21/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Thị B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nông Thị B thay đổi lời khai cho rằng mình không trộm tiền của ông N bà P mà do bà P cho bị cáo vay tiền và tự đưa chìa khóa để bị cáo mở tủ lấy tiền nhưng bị cáo không có căn cứ gì đưa ra để chứng minh; hàng ngày bị cáo làm công việc lao động tự do và không có thu nhập ổn định. Đồng thời bị cáo cho rằng quá trình điều tra, truy tố không bị bức cung nhục hình; các chữ ký trong các biên bản lấy lời khai và bản cung đúng là của bị cáo. Bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại.
Bị hại Lê Thị P, Nông Văn N1 có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Tại các lời khai có trong hồ sơ và đơn xin xét xử vắng mặt của ông N1 bà P thể hiện: Số tiền 21.000.000đ là do vợ chồng ông N1 bà P tích góp mà có. Bị cáo B là chị gái ruột của ông N1 (chồng bà P). Do bà B có thời gian chung sống với gia đình nên biết rõ các phòng, đồ đạc trong nhà và biết bà P hay để chìa khóa tủ trong túi xách, hay để tiền ở phòng ngủ. Bà B đã nhiều lần lén vào nhà, lục đồ, đi vào phòng ngủ của vợ chồng ông. Khi bị mất số tiền 21.000.000₫ ông N1 bà P nghi ngờ bà B nên đã báo công an. Vợ chồng ông không cho bà B vay tiền. Ông N1 bà P xác nhận, sau khi sự việc được làm rõ, ông bà đã được công an trả lại số tiền 20.855.000đ (Hai mươi triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn đồng) thu giữ từ nhà trọ của bị cáo B, ông bà không yêu cầu bồi thường gì thêm, chỉ xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra ông bà không có ý kiến gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nông Thị B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Nông Thị B từ 06 đến 09 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra việc xem xét giải quyết do bị hại không yêu cầu. Về xử lý vật chứng: Không có. Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo trình bày đã trả hết tiền cho các bị hại. Ngoài ra, bị cáo không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo cho rằng bản thân chỉ mượn tiền chứ không được trộm tiền của ông N1 bà P. Tuy nhiên ngoài lời khai tại phiên tòa, bị cáo không đưa ra được căn cứ gì khác để chứng minh.
Quá trình điều tra cho thấy, bị cáo B không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Tại Biên bản làm việc ngày 20/11/2024 Công an phường S, thành phố C cung cấp thông tin: Bà Nông T1 Bình thường xuyên lang thang trên địa bàn phường, nhiều lần trộm cắp vặt và bị phát hiện; nhưng do giá trị tài sản nhỏ, người dân đã thu hồi được tài sản nên không đề nghị xử lý với bà B.
Tại Biên bản sự việc và Biên bản ghi lời khai ngày 15/7/2024, bị cáo đều cho rằng nguồn gốc số tiền 20.855.000₫ do con trai là Nguyễn Quang H1 chuyển vào tài khoản ngân hàng cho bà 20.000.000đ, con gái Nguyễn Mai P2 chuyển cho bà 12.000.000đ. Tuy nhiên, các lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Chị Vũ Ngọc Q (con dâu bị cáo) và anh Vũ Quang H2 (con trai bị cáo) đã chặn số điện thoại của bà B từ nhiều năm nay. Từ năm 2017 hai vợ chồng đã cắt đứt liên lạc với bà B do bà B để lại cho gia đình chị một khoản nợ quá lớn. Từ đó đến nay chị Q, anh H2 không gửi tiền cho bà B. Lời khai của chị Nguyễn Mai P2 (con gái bị cáo) thể hiện: Chị đã chặn số điện thoại của bà B từ cuối năm 2023, từ đó đến nay chị không gửi tiền cho bà B. Lần cuối chị chuyển tiền cho bà B là từ đầu năm 2023 với số tiền 2.000.000đ.
Lời khai của bị cáo tại Biên bản ghi lời khai các ngày 18/7/2024, 29/11/2024, 30/11/2024, 22/01/2025; Biên bản hỏi cung bị can các ngày 30/11/2024, 18/02/2025 thừa nhận bản thân có trộm tiền của ông N1 bà P. Tại các biên bản làm việc, biên bản hỏi cung bị cáo đều được giải thích quyền và nghĩa vụ của mình; quá trình lập biên bản có người chứng kiến tham gia; sau khi khai đã cam đoan lời khai của bản thân là đúng sự thật, nếu sai sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật. Các lời khai này phù hợp với lời khai của các bị hại, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tang vật (tiền) thu được trong nhà trọ của bị cáo.
Đối với số tiền bị cáo trộm cắp: Tuy chưa có sự trùng khớp tại các lời khai của bị cáo nhưng những lời khai sau cùng của bị cáo tại Biên bản ghi lời khai 22/01/2025; Biên bản hỏi cung bị can 18/02/2025; tại Kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố đều thể hiện số tiền bị cáo trộm cắp được là 21.000.000đ; khi nhận Kết luận điều tra và Cáo trạng bị cáo không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa, bị cáo khẳng định nhiều lần: Từ khi bị bắt đến phiên tòa hôm nay bị cáo không bị bức cung, nhục hình; bị cáo không có ý kiến với quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Điều đó cho thấy quá trình điều tra hoàn toàn khách quan. Tại phiên tòa sau khi đại diện Viện kiểm sát trình bày bản luận tội, bị cáo cũng không có ý kiến để tự bào chữa hay tranh luận.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 08/07/2024 tại nhà riêng của Nông Thanh N, Lê Thị P thuộc tổ A phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Nông Thị B đã thực hiện hành vi lấy trộm số tiền 21.000.000đ (hai mươi mốt triệu đồng) của vợ chồng Nông Thanh N, Lê Thị P để tiêu dùng cá nhân.
Hành vi của bị cáo Nông Thị B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người bệnh A (khởi phát sớm, mức độ nhẹ) không thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật và đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự nhưng ngày 24/12/2024 bị Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại Lê Thị P, Nông Thanh N đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Số tiền bị cáo trộm cắp là 21.000.000đ, đã trả lại cho các bị hại số tiền 20.855.000đ; các bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về hình phạt:
Trong vụ án này, mặc dù bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, trộm cắp tài sản của người thân trong gia đình nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mới đủ nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Việc cơ quan điều tra trả lại số tiền bị trộm cho các bị hại là đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, không còn vật chứng nào khác.
[7] Về các vấn đề khác:
Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nông Thị B phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt: Bị cáo Nông Thị B 06 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 30/11/2024.
2. Về án phí:
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử buộc bị cáo Nông Thị B phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Hương Thảo |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 08/07/2024 tại nhà riêng của Nông Thanh N, Lê Thị P thuộc tổ A phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Nông Thị B đã thực hiện hành vi lấy trộm số tiền 21.000.000đ (hai mươi mốt triệu đồng) của vợ chồng Nông Thanh N, Lê Thị P để tiêu dùng cá nhân. Hành vi của bị cáo Nông Thị B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người bệnh A (khởi phát sớm, mức độ nhẹ) không thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật và đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
