Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-ST

Ngày: 24 - 12 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Hồng Năm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Minh Tiến

2. Bà Đặng Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thiện Quang, Thư ký TAND khu vực 5- Đồng Nai.

- Đại diện VKS nhân dân khu vực 5 - Đồng Nai, tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nhật L - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 08/12/2025 đối với bị cáo:

Phạm Văn H, sinh năm1999 tại Đồng Nai. Số CCCD : [...]. Nơi cư trú: Tổ D, Ấp C, xã X, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: thiên chúa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Phạm Văn M, sinh năm 1978; Con bà: Thiệu Thị Hồng P, sinh năm 1981. Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 06/9/2024, bị Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 10/12/2024, chưa được xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/8/2025 đến ngày 12/8/2025 thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Phân trại tạm giam H ( Phân trại tạm giam khu vực C cũ) - Trại tạm giam số 01, Công an tỉnh Đ cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Võ Văn T, sinh năm 1955. Địa chỉ: Ấp D, xã X, tỉnh Đồng Nai. ( vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1998. Địa chỉ: Tổ A, Ấp A, xã X, tỉnh Đồng Nai. ( Có mặt)

2. Ông Phạm Văn M, sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ D, Ấp C, xã X, tỉnh Đồng Nai. ( Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 07/8/2025, Phạm Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 60Y2-7335 đến nhà Nguyễn Văn T1 rủ T1 đi thăm bẫy rắn thì T1 đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô chở T1 đi đến khu vực ấp D, xã X, tỉnh Đồng Nai, khi đi qua rẫy nhà ông Võ Văn Thảo H1 nhìn thấy có một số cánh cửa bằng sắt đang để gần chuồng dê phía sau nhà. Lúc này H1 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài nên rủ T1 thì T1 đồng ý. H1 dựng xe ở phía trước sân nhà và cùng T1 đi vào khu vực chuồng dê thì thấy có 04 (bốn) cánh cửa sắt đã hoen rỉ nên H1 đã bê 03 cánh cửa, T1 bê 01 cánh cửa ra vị trí để xe rồi H1 điều khiển xe mô tô chở T1 ngồi phía sau ôm 04 cánh cửa sắt ra ngã ba ấp D, xã X hướng về ngã tư Sông R. Khi đi đến đoạn đường nhựa thuộc tổ E, ấp D, xã X thì bị lực lượng Công an phát hiện, xử lý.

Tại kết luận định giá số 237/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đồng Nai kết luận: 04 (bốn) tấm cửa sắt (đã qua sử dụng), trọng lượng 69kg đã hoen rỉ tại thời điểm định giá ngày 07/8/2025 có giá là 414.000đ.

Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật và động cơ vụ lợi của bị cáo Phạm Văn H. Bị cáo có lối sống thiếu lành mạnh, nhận thức pháp luật hạn chế, muốn chiếm đoạt tài sản để phục vụ mục đích cá nhân.

Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Văn H đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn.

Vật chứng vụ án và việc xử lý vật chứng:

- 04 (bốn) tấm cửa sắt (đã qua sử dụng), trọng lượng 69kg (sáu mươi chín ký), đã hoen rỉ. Đây là tài sản hợp pháp của ông Võ Văn T. Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho ông Võ Văn T theo quy định của pháp luật.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 60Y2-7335 do bà Lê Thị Hồng L1, sinh năm 1980, trú tại tổ F, khu phố L, phường T, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra xác định đây là xe do ông Phạm Văn M, sinh năm 1978, trú tại ấp C, xã X cho T2 mượn để sử dụng làm phương tiện đi lại, không liên quan đến hành vi phạm tội. Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đã tiến hành các hoạt động điều tra nhưng chưa xác định được nguồn gốc, xuất xứ của phương tiện. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ tiếp tục tiến hành xác minh, xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKSKV5 ngày 19/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phạm Văn Huy về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt: Đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H từ 06 ( Sáu) tháng đến 08 (T3) tháng. tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2025.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 07 giờ ngày 07/8/2025, tại rẫy nhà ông Võ Văn T thuộc ấp D, xã X, tỉnh Đồng Nai, Phạm Văn H cùng Nguyễn Văn T1 có hành vi trộm cắp tài sản là 04 (bốn) tấm cửa sắt thì bị lực lượng công an xã X phát hiện, bắt giữ.

Tại kết luận định giá số 237/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đồng Nai kết luận: 04 (bốn) tấm cửa sắt (đã qua sử dụng), trọng lượng 69kg (sáu mươi chín ký), đã hoen rỉ tại thời điểm định giá ngày 07/8/2025 có giá 414.000đ.

Như vậy với kết luận định giá giá trị tài sản là 414.000₫ dưới 2.000.000đ. Tuy nhiên do bị cáo H có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy việc truy tố, xét xử bị cáo H là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng do mục đích tư lợi, tham lam, lười lao động nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần đưa ra xét xử để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung là cần thiết.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Xét bị cáo H không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại không lớn nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025).

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã giao trả cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì nên không xét.

[6] Về vật chứng:

- Đối với 04 (bốn) tấm cửa sắt (đã qua sử dụng), trọng lượng 69kg (sáu mươi chín ký), đã hoen rỉ. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho ông Võ Văn T là đúng theo quy định.

[7] Về vấn đề khác:

Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Văn T1, do tài sản bị trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000đ và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã chuyển hồ sơ cho Công an xã X ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã chuyển hồ sơ cho Công an xã X ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền. Đồng thời Nguyễn Văn T1 là đối tượng quản lý sau cai nghiện. Do đó, đối với hành vi sử dụng chất ma túy của Nguyễn Văn T1 có dấu hiệu của tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 265a Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tiến hành thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 60Y2-7335 do bà Lê Thị Hồng L1, sinh năm 1980, trú tại tổ F, khu phố L, phường T, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra xác định đây là xe do ông Phạm Văn M, sinh năm 1978, trú tại ấp C, xã X cho H mượn để sử dụng làm phương tiện đi lại, không liên quan đến hành vi phạm tội. Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ chưa xác định được nguồn gốc, xuất xứ của phương tiện nên sẽ tiếp tục tiến hành xác minh, xử lý sau.

[8] Về án phí: Bị cáo H phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

[9] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đồng Nai phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025).
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”
  2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 08 (T3) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2025
  3. Về án phí: Bị cáo H phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo,nười có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị hại vắng mặt thì quyền kháng cáo tính từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND khu vực 5 - Đồng Nai;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng THADS khu vực 5 - Đồng Nai -
  • Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
  • - Phân trại tạm giam Hàng Gòn (Phân trại tạm giam khu vực Cẩm Mỹ cũ) - Trại giam số 1 công an tỉnh Đồng Nai
  • - Bị cáo; bị hại, người liên quan;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phí Thị Hồng Năm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG NAI về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 07 giờ ngày 07/8/2025, tại rẫy nhà ông Võ Văn Thảo thuộc ấp 4, xã Xuân Đông, tỉnh Đồng Nai, Phạm Văn Huy cùng Nguyễn Văn Thiện có hành vi trộm cắp tài sản là 04 (bốn) tấm cửa sắt thì bị lực lượng công an xã Xuân Đông phát hiện, bắt giữ.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger