|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG Bản án số:29 /2025/HS-ST Ngày: 24-6-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai
Bà Nguyễn Thị Thuý
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST - HS, ngày 11 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 21 tháng 4 năm 1984, tại Bắc Giang. Trú quán: thôn L, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ văn hóa: 09/12. Con ông: Hoàng Văn K, sinh năm 1958 (đã chết). Con bà: Hà Thị V, sinh năm 1960. Vợ là: Trần Thị N, sinh năm 1986. Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2013. Gia đình bị cáo có 04 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 4.
- Tiền án:
Tại bản án số 58/2020/HS-ST ngày 21/8/2020 của TAND huyện Lục Ngạn xử phạt Hoàng Văn T 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" (giá trị tài sản 3.500.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/8/2021.
Tại bản án số 112/2022/HS-ST ngày 20/12/2022 của TAND huyện Lục Ngạn xử phạt Hoàng Văn T 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" (Giá trị tài sản 5.336.200 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2024.
- Tiền sự: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06 ngày 25/4/2020 của Công an xã K, huyện L (nay là thị xã C), tỉnh Bắc Giang xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi "Trộm cắp tài sản". Đến nay, T chưa nộp phạt.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Công an tỉnh B – khu vực thị xã C. Có mặt tại phiên tòa
* Bị hại: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1969
Nơi cư trú: Thôn R, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. ( Vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Duyên Đ, sinh năm 1981
Nơi cư trú: Thôn R, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. ( Vắng mặt)
- Bà Hà Thị V, sinh năm 1960;
Nơi cư trú: Thôn L, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.( Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn T, sinh năm 1984 trú tại thôn L, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang là đối tượng có tiền án, tiền sự về tội trộm cắp tài sản. Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 04/4/2025, T một mình điều khiển xe máy điện biển số 98MĐ2-032.10, nhãn hiệu ESPERO, màu đen, từ nhà đi tìm xem hộ dân nào để tài sản sơ hở thì trộm cắp mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 00 giờ 30 phút cùng ngày Hoàng Văn T đi đến khu vực công trình (nhà kho) đang xây dựng của gia đình anh Nguyễn Duyên Đ, sinh năm 1981, tại thôn R, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang thì thấy tại công trình xây dựng để nhiều bộ giàn giáo bằng kim loại. Số tài sản này là của ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1969, trú tại thôn R, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang là thợ xây dựng công trình cho gia đình anh Đ. T quan sát xung quanh không thấy ai trông coi nên T đi xe vào khu vực công trình, dựng xe xuống và lấy 04 khung giàn giáo (chữ H) bằng kim loại, 04 thanh kim loại là giằng giàn giáo để lên xe rồi chở đi tìm chỗ tiêu thụ. Khi T đang chở số tài sản vừa trộm cắp được đến đoạn đường thuộc địa phận thôn T, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang thì gặp lực lượng Công an xã K đang tuần tra. Do nghi vấn T trộm cắp tài sản nên tổ công tác đã mời T về trụ sở Công an xã K để làm việc. Tại Công an xã K, T xin đầu thú và khai nhận đã trộm cắp số tài sản trên để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Công an xã K đã lập biên bản vụ việc, tạm giữ tài sản gồm: 01 xe máy điện biển số 98MĐ2-032.10, 04 khung giàn giáo (chữ H) đều làm bằng thép, đều có đầu nối, đều có kích thước là cao 1,57 m, rộng 98 cm, đường kính ống thép 4,2 cm, độ dày của thép là 2 mm, có tổng khối lượng là 39,8 kg; 04 thanh kim loại (thanh giằng giàn giáo) đều làm bằng thép, đều có kích thước là dài 02 m, đường kính 02 cm, dầy 02 mm, có tổng khối lượng là 4,8kg.
Ngày 04/4/2025, Công an xã K đã báo cáo vụ việc và bàn giao đối tượng, tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Hoàng Văn T tại thôn L, xã K, thị xã C, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 8/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 04 khung giàn giáo và 04 thanh kim loại (giằng giàn giáo) bị trộm cắp nêu trên. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 17 ngày 10/04/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã C, xác định:
- - 04 (bốn) khung giàn giáo (chữ H) đều làm bằng thép, đều có đầu nối, đều có kích thước là cao 1,57 m, rộng 98 cm, đường kính ống thép 4,2 cm, độ dày của thép là 2 mm, có tổng khối lượng là 39,8 kg: 417.900 đồng.
- - 04 (bốn) thanh kim loại (thanh giằng giàn giáo) đều làm bằng thép, đều có kích thước là dài 02 m, đường kính 02 cm, dầy 02 mm, có tổng khối lượng là 4,8kg: 48.000 đồng
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 465.900đ (Bốn trăm sáu mươi lăm nghìn chín trăm đồng).
Đối với xe máy điện biển số 98MĐ2-032.10, nhãn hiệu ESPERO, màu đen thu giữ của bị cáo Hoàng Văn T. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe là bà Hà Thị V, sinh năm 1960, trú tại thôn L, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang (là mẹ đẻ của bị cáo T). Bà V không biết việc T sử dụng chiếc xe trên đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà V.
Về xử lý vật chứng: Ngày 21/5/2025, Cơ quan điều tra tiến hành xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy điện biển số 98MĐ2-032.10 cho bà V và trả lại 04 khung giàn giáo (chữ H) đều làm bằng thép có tổng khối lượng là 39,8 kg và 04 thanh kim loại (thanh giằng giàn giáo) đều làm bằng thép, có tổng khối lượng là 4,8kg cho ông Nguyễn Văn C theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Ông C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Hoàng Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố và thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình là sai, vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà người liên quan bà V trình bày: Bà là mẹ bị cáo, khi bị cáo lấy xe để đi trộm cắp tài sản bà không biết, nay bà đã được nhận lại xe nên không có ý kiến.
Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được HĐXX công bố tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến.
Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKS-TXC ngày 09 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a, b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ giữ quyền công tố tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ áp dụng pháp luật, hình phạt: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính tù ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (04/4/2025).
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, có mặt không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng: Những người này đều đã được triệu tập hợp lệ, những người này đều đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã có trong hồ sơ vụ án và không có yêu cầu bổ sung nào khác. Xét thấy sự vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định.
[2]. Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản cáo trạng đã truy tố:Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng tang vật thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Hoàng Văn T, sinh năm 1984, trú tại thôn L, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang là đối tượng có tiền án, tiền sự về tội trộm cắp tài sản. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 04/4/2025, tại khu vực công trình đang xây dựng của gia đình anh Nguyễn Duyên Đ, sinh năm 1981, ở thôn R, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang, Hoàng Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp 04 khung giàn giáo (chữ H) đều làm bằng thép, đều có đầu nối, đều có kích thước là cao 1,57 m, rộng 98 cm, đường kính ống thép 4,2 cm, độ dày của thép là 2 mm, có tổng khối lượng là 39,8 kg và 04 thanh kim loại (thanh giằng giàn giáo) đều làm bằng thép, đều có kích thước là dài 02 m, đường kính 02 cm, dầy 02 mm, có tổng khối lượng là 4,8kg. Tổng giá trị tài sản T trộm cắp xác định là 465.900 đồng. ).
Mặc dù số tiền phạm tội của bị cáo chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo đã kết án, bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích.Hành vi nêu trên của Hoàng Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ đã truy tố và lời luận tội tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
[3] Xét về tính chất, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cho thấy:
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là đối tượng lười lao động, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền ăn tiêu, bị cáo thực hiện hành vi một cách liều lĩnh, chỉ vì lợi ích cá nhân đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm trực tiếp đến quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong nội bộ quần chúng nhân dân.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo có 02 tiền án đều bị xét xử về tội trộm cắp tài sản; 01 tiền sự cũng về hành vi Trộm cắp tài sản, đến nay, T chưa chấp hành xong nhưng bị cáo không lấy đó là bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục cải tạo. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, hoàn cảnh khó khăn, do vậy cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Ông C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về vật chứng: Ngày 21/5/2025, Cơ quan điều tra tiến hành xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy điện biển số 98MĐ2-032.10 cho bà V và trả lại 04 khung giàn giáo (chữ H) đều làm bằng thép có tổng khối lượng là 39,8 kg và 04 thanh kim loại (thanh giằng giàn giáo) đều làm bằng thép, có tổng khối lượng là 4,8kg cho ông Nguyễn Văn C theo quy định của pháp luật, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ áp dụng pháp luật, hình phạt: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính tù ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (04/4/2025).
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thu Hà |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T - trộm cắp tài sản
