|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày 12-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Oanh - Bà Đình Thị Thanh Hải
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thái Quang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hoà - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Tuấn A; tên gọi khác: không; sinh ngày 11 tháng 12 năm 1996 tại Lào Cai; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi cấp: Cục C - Bộ C1; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường Y, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Lê Thành Đ (đã chết) và bà: Lương Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/2017/HSST ngày 28/02/2017 Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt Lê Tuấn A 07 năm 06 tháng về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” đã chấp hành xong các quyết định của bản án (đã được xoá án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 8 năm 2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh L. Có mặt.
* Người có qyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị L, sinh năm: 1959;
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường Y, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
* Người chứng kiến: Ông Lê Quốc A1, sinh năm: 1959;
Địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Tuấn A là đối tượng sử dụng chất ma túy. Vào khoảng 14 giờ, ngày 08 tháng 8 năm 2025, do có nhu cầu sử dụng ma tuý Methamphetamine, Lê Tuấn A một mình đi bộ từ nhà đến khu vực đầu cầu B để tìm mua. Tại đây, Tuấn A gặp một nam thanh niên không biết tên, tuổi địa chỉ và hỏi mua của người này 10 viên ma tuý Methamphetamine với giá 800.000 đồng thì người này đồng ý bán cho Tuấn A. Do không có tiền mặt nên Tuấn A nói với người này sẽ thanh toán tiền mua ma tuý bằng hình thức chuyển khoản thì người này đồng ý và bảo Tuấn A đợi một lúc. Sau đó, nam thanh niên trên đi về phía khu vực đầu cầu B rồi quay lại đưa cho Tuấn A chụp lại hình ảnh mã QR tài khoản ngân hàng để thanh toán. Tuấn A đã sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 PROMAX, màu đen, lắp sim số 0793 352 868 của Tuấn A truy cập vào ứng dụng Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 (B) để chuyển số tiền 800.000 đồng vào số tài khoản 19050865235011 mang tên BUI THI LY của Ngân hàng thương mại cổ phần K (T3). Sau khi thanh toán tiền, nam thanh niên đưa điện thoại của mình cho Tuấn A chụp lại nội dung hướng dẫn đi đến vị trí cất giấu ma tuý. Khi Lê Tuấn A đang ở vị trí cất giấu ma tuý thì bị lực lượng Công an phát hiện, tại khu vực cất giấu ma tuý Tuấn A nhặt lấy từ bên dưới mẩu gỗ bên trên mặt bãi đất trống 01(một) gói nilon màu trắng có khoá kẹp viền màu đỏ bên trong có 10 (mười) viên nén hình tròn màu đỏ, chiếc túi nilon này được cuốn một lớp băng dính màu xanh. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ số ma tuý nêu trên và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 PROMAX, màu đen, lắp sim số 0793 352 868.
* Tại bản kết luận giám định số: 404/KL-KTHS, ngày 15 tháng 8 năm 2025 của phòng K1, Công an tỉnh L kết luận:
Các viên nén hình tròn màu đỏ trong phong bì niêm phong, ký hiệu M gửi giám định là ma tuý loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 01gam. Cơ quan giám định đã trích 0,2 gam để phục vụ giám định, hoàn lại cơ quan trưng cầu 0,8 gam.
Cáo trạng số 20/CT-VKS-KV1 ngày 07 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai truy tố Lê Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất
2
ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đề nghị xử phạt Lê Tuấn A từ: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,8 gam ma túy Methamphetamine (sau khi trích mẫu giám định) được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong do Phòng K1 Công an tỉnh L phát hành; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong và túi nilon có dán băng dính màu xanh.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 PROMAX, màu đen, lắp sim số 0793 352 868 của Lê Tuấn A đã qua sử dụng.
Về án phí: Áp dụng Điều 136; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, không tranh luận gì và có lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt, tuy nhiên, sự vắng mặt của của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét
3
xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đã phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu giữ của vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gam chất ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân của Lê Tuấn A trong ngày 08 tháng 8 năm 2025, tại khu vực tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Lào Cai đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, đây là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác trong xã hội.
Về nhân thân, bị cáo Lê Tuấn A có đủ năng lực nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động của bản thân, ngày 28 tháng 02 năm 2017 bị Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử 07 năm 06 tháng về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” đã chấp hành xong được xoá án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.
Bị cáo Lê Tuấn A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, do đó cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy; không có việc làm, tài sản, thu nhập; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[6] Về nguồn gốc số ma túy (M) bị thu giữ khi bắt quả tang. Quá trình điều tra không xác định được tên tuổi địa chỉ cụ thể của người thanh niên đã bán ma tuý Methamphetamine cho Lê Tuấn A vào ngày 08 tháng 8 năm 2025 nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.
[7] Đối với số tài khoản 19050865235011 mang tên BUI THI LY của ngân
4
hàng thương mại cổ phần K (T4) bị cáo Lê Tuấn A đã chuyển 800.000 đồng vào số tài khoản này để mua ma tuý. Quá trình điều tra xác định, số tài khoản này thuộc sở hữu của bà Bùi Thị L, sinh năm 1959, trú tại tổ dân phố N, phường Y, tỉnh Lào Cai). Bà L khai nhận: Chiều ngày 08 tháng 8 năm 2025, bà L đang đi chợ B1 tại khu vực đầu cầu B thuộc tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Lào Cai thì gặp một thanh niên đi xe ga không rõ tên tuổi địa chỉ hỏi mượn tài khoản ngân hàng do có việc gấp. Ban đầu bà L không cho mượn vì sợ bị lừa đảo nhưng nam thanh niên này nài nỉ nên bà L cho mượn chiếc điện thoại và cung cấp mật khẩu truy cập ứng dụng tài khoản ngân hàng T4. Sau đó, nam thanh niên này rời đi khoảng 05 phút rồi quay lại nhờ bà L đưa cho số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) do tài khoản của bà L đã được một người chuyển đến số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Sau khi kiểm tra xác nhận đúng, bà L đã lấy 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) tiền mặt đưa cho nam thanh niên. Sau đó, người này đi đâu làm gì thì bà L không biết. Xét thấy, tại thời điểm bà L cho người thanh niện mượn tài khoản ngân hàng bà L không biết và không liên quan đến hành vi giao dịch mua bán trái phép chất ma tuý giữa người nam thanh niên và bị cáo Lê Tuấn A. Do đó, không đề cập xử lý trách nhiệm của bà Bùi Thị L về tội Mua bán trái trái phép chất ma tuý.
[8] Về vật chứng của vụ án:
- - Đối với 01 (một) gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ của Lê Tuấn A. Cơ quan giám định đã trích 0,2 (không phẩy hai) gam còn lại 0,8 ( không phẩy tám) gam ma tuý loại Methamphetamine được niêm phong trong một phong bì do Phòng K1 Công an tỉnh L phát hành là chất nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong và túi nilon có dán băng dính màu xanh không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 14 PROMAX, màu đen, lắp sim số 0793 352 868 của Lê Tuấn A sử dụng để giao dịch mua bán ma tuý cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) xử phạt bị cáo:
5
Lê Tuấn A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08 tháng 8 năm 2025
3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
3.1 Tịch thu tiêu hủy:
- - 0,8 (không phẩy tám) gam ma túy Methamphetamine được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong do Phòng K1 Công an tỉnh L phát hành, mặt trước phong bì có ghi: “Vật chứng do Lê Tuấn A tự giác giao nộp trong quá trình bắt quả tang ngày 08 tháng 8 năm 2025” (sau khi trích mẫu giám định)”. Mặt sau phong bì, các mép đều được dán kín, có họ tên, chữ ký của Đỗ Thị Bích T, Trần Mạnh D, Lê Tuấn A, Nguyễn Tuấn A2 và các hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh L.
- - 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong và túi nilon có dán băng dính màu xanh.
3.2 Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- - 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 14 PROMAX, màu đen, lắp sim số 0793 352 868 của Lê Tuấn A đã qua sử dụng được niêm phong trong một phong bì. Mặt trước có ghi “ Điện thoại tạm giữ của Lê Tuấn A ngày 08/8/2025”. Mặt sau các mép được dán kín, có chữ ký, họ tên của Đỗ Thị Bích T, Trần Mạnh D, Lê Tuấn A, Nguyễn Anh T1 các hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh L.
(Đặc điểm chi tiết thể hiện theo các biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 -11-2025 tại Chi cục thi hành án dân sự khu vực 1 - Lào Cai)
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 ; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và
6
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Kim Tuyến |
7
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA
|
Đoàn Thị O |
Đình Thị Thanh Hải |
Nguyễn Thị Kim T2 |
8
9
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÀO CAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) xử phạt bị cáo: Lê Tuấn A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08 tháng 8 năm 2025
