|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày 18 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Nga
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hàng A Vàng
Ông Trần Minh Hải
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Tính, Kiểm sát viên.
Ngày 18/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/HSST-QĐ, ngày 20/01/2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Tiến S; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 09/8/1975 tại tỉnh Lai Châu; Nơi thường trú: Tổ D, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Nơi tạm trú và chỗ ở: Tổ A, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1947; Có vợ là Phạm Thị L (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Bị cáo có 08 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 23/2008/HSST ngày 04/4/2008 của Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu, xử phạt Nguyễn Tiến S 24 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và buộc S phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 19/8/2009 Nguyễn Tiến S chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí nên đã được xóa án tích; Bản án số 62/2013/HSST ngày 25/8/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu, xử phạt Nguyễn Tiến S 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và buộc S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 26/8/2015 Nguyễn Tiến S chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí nên đã được xóa án tích; Bản án số 22/2018/HSST ngày 20/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, xử phạt Nguyễn Tiến S 33 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và buộc S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 25/10/2019 Nguyễn Tiến S chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí nên đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 tại nhà tạm giữ Công an thành phố L cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Phìn Văn V; Tên gọi khác: Phìn Văn N; Sinh ngày 01/01/1977 tại tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Tổ B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Phìn Văn D (đã chết) và con bà Pờ Thị S1, sinh năm 1952; Vợ, con: chưa có; Bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: 04.
Bị cáo bị bắt, bị tạm giữ từ ngày 29/3/2024 đến ngày 07/4/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Đ, thành phố L. Bị cáo là người bị kết án đang được hoãn thi hành án theo Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù số 01/2020/QĐ-TA, ngày 09/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu với lý do Phìn Văn V đang bị bệnh nặng (HIV/AIDS). Ngày 25/4/2024 bị cáo đến chấp hành án theo Quyết định hủy Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù số 01/2024/THAHS-QĐ ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại trại giam N1, tỉnh Điện Biên (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Những người làm chứng:
- Anh Triệu Chí C, sinh năm 1999, trú tại bản N, phường Q, thành phố L, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt);
- Ông Đặng Hữu H1, sinh năm 1973, trú tại tổ B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt);
- Ông Ngô Tuấn C1, sinh năm 1973, trú tại tổ C, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt);
- Ông Sùng Việt K, sinh năm 1985, trú tại tổ I, phường Q, thành phố L, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/3/2024, Nguyễn Tiến S đang ở nhà tại tổ A, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu cùng với Triệu Chí C, sinh năm 1999, trú tại bản N, phường Q, thành phố L thì có Đặng Hữu H1, sinh năm 1973, trú tại tổ B, phường Đ, thành phố L và Phìn Văn V, sinh năm 1977, trú tại tổ B, phường Đ, thành phố L đến nhà S (H1 đến chơi còn V đến rủ S đi làm răng). Sau đó S, H1, V ngồi chơi tại giường trong phòng ngủ của S còn C ngồi chơi điện thoại trên giường ngoài phòng khách nhà S. Tại phòng ngủ của S, H1 hỏi S “Mày còn điếu thuốc nào không?”, S hiểu H1 muốn hỏi có còn thuốc phiện không nên S trả lời “không có, có tý xái có tua thì tua”. Thấy H1 và V không nói gì nên S đi ra ngoài sân lấy 01 khay sắt trong ngăn tủ bằng nhôm, trên khay sắt có các đồ vật gồm: 03 que kim loại có dính vết cháy màu đen; 01 chày gỗ nâu có dính vết cháy màu đen; 01 chén sứ màu trắng bên trong có chứa sái thuốc phiện khô màu đen; 01 gói được gói ngoài bằng nilon màu trắng bên trong có chứa sái thuốc phiện khô màu đen; 08 gói giấy màu trắng hình chữ nhật, trên vỏ có in chữ nước ngoài màu xanh, bên trong đều có thuốc cảm cúm dạng bột; 01 mảnh giấy màu xanh đỏ vàng, 01 mảnh nilon một mặt màu bạc, một mặt màu đỏ trắng, 01 mảnh nion màu vàng có in chữ màu nâu; 01 đèn dầu bằng kim loại có kẹp bấc và bóng đèn bằng thủy tinh; 01 ống tre hình trụ tròn trên thân có 02 lỗ. S cầm khay sắt nói trên để trên giường ngủ trong buồng của S và bảo V làm xái thuốc phiện cho H1 hút rồi S đi ra ngoài. Nghe S nói vậy, V châm đèn dầu lên rồi làm xái thuốc phiện cho vào lỗ của ống tre và cầm ống tre để H1 hút. Trong lúc H1 đang hút xái thuốc phiện thì Ngô Tuấn C1, sinh năm 1973, trú tại tổ C, phường Đ, thành phố L đến nhà S và xin V, H1 cho hút xái thuốc phiện cùng. Khi H1 hút xong thì C1 nằm xuống giường và nhờ V làm xái thuốc phiện giúp C1 để C1 hút. Lúc này S cũng có mặt tại phòng ngủ, chứng kiến việc C1 xin hút xái thuốc phiện nhưng S không nói hay có hành động ngăn cản gì vì trong ý thức của S cùng đồng ý cho C1 hút. Thấy S không nói gì thì V biết S cũng đồng ý nên tiếp tục cuộn xái thuốc phiện cho vào ống tre và cầm ống tre cho C1 hút. Trong lúc C1 đang hút thuốc phiện thì Sùng Việt K, sinh năm 1985, trú tại tổ I, phường Q, thành phố L đến nhà S chơi. K thấy trên mặt bàn trong phòng có 01 cóng tự chế, 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc còn dính 01 ít ma túy hồng phiến của S sử dụng còn thừa nên đã tự ý lấy số hồng phiến này và sử dụng bằng hình thức hít. Hồi 16 giờ 00 phút cùng ngày, Cảnh vừa hút xái thuốc phiện xong thì đến lượt Viên hút, khi V đang hút xái thuốc phiện thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố L phối hợp với Công an phường Đ phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tiến S và Phìn Văn V về hành vi “Tổ chức việc sử dụng ma túy”, đồng thời thu giữ toàn bộ số xái thuốc phiện còn lại của S tại hiện trường và các vật chứng khác có liên quan.
Cùng ngày 29/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Tiến S. Kết quả khám xét đã phát hiện thu giữ S: 01 gói được gói ngoài bằng mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, xanh, đen bên trong có chứa 07 viên Hồng phiến; 01 túi nilon màu hồng, bên trong có chứa xái thuốc phiện vón cục màu đen; 01 túi zip có khóa viền màu đỏ bên trong có chứa chất bột khô vón cục màu đen; 01 túi nilon màu hồng, bên trong có 01 gói xái thuốc phiện được gói ngoài bằng mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng và 08 gói xái thuốc phiện đều được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến S khai nhận: Nguồn gốc xái thuốc phiện bị Cơ quan Công an thu giữ trong quá trình bắt quả tang và khám xét khẩn cấp là của S xin được của một người giống người nghiện tại bãi vàng C thuộc huyện T, tỉnh Lai Châu cách ngày bị bắt khoảng 3 - 4 năm. Nguồn gốc 07 viên hồng phiến bị thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp là S mua của một người đàn ông dân tộc Giáy không rõ lai lịch tại khu vực cầu treo thuộc bản Mới, xã S, thành phố L vào ngày 28/3/2024, ban đầu S mua được 10 viên với giá 500.000 đồng nhưng S đã sử dụng hết 03 viên. Mục đích S tàng trữ xái thuốc phiện và hồng phiến là để sử dụng.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng và gửi mẫu giám định.
Tại bản kết luận giám định số 386/KL-KTHS ngày 02/4/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh L đối với mâu viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Tiến S trong quá trình khám xét khẩn cấp ngày 29/3/2024, kết luận: 01 mẫu viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số 2417/KL-KTHS, ngày 06/4/2024 của V1 - Bộ C2 đối với 11 gói chất bột màu đen thu giữ của Nguyễn Tiến S trong quá trình khám xét khẩn câp ngày 29/3/2024, kết luận: Số chất bột khô màu đen trong các túi ni lông kí hiệu từ M1 đến M11 gửi giám định đều là thuốc phiện pha trộn, hàm lượng, khối lượng như sau:
| Kí hiệu mẫu | Hàm lượng Morphine | Khối lượng mẫu chất bột khô màu đen | Khối lượng Thuốc Phiện được quy đổi theo nghị định số: 19/2018/NĐ-CP |
|---|---|---|---|
| M1 | 0,67 % | 2,55 gam | 0,170 gam |
| M2 | 0,91% | 2,33 gam | 0,212 gam |
| M3 | 0,94% | 5,46 gam | 0,513 gam |
| M4 | 0,21% | 3,44 gam | 0,072 gam |
| M5 | 1,53% | 2,61 gam | 0,399 gam |
| M6 | 0,45% | 4,20 gam | 0,189 gam |
| M7 | 0,63% | 5,1 gam | 0,321 gam |
| M8 | 0,16% | 6,82 gam | 0,109 gam |
| M9 | 0,79% | 2,26 gam | 0,178 gam |
| M10 | 0,44% | 14,29 gam | 0,628 gam |
| M11 | 0,40% | 70,30 gam | 2,812 gam |
| Tổng cộng | 119,36 gam | 5,603 gam | |
Tại bản kết luận giám định số 2414/KL-KTHS, ngày 06/4/2024 của V1 - Bộ C2 kết luận đối với số chất bột khô màu đen trong túi nilon màu trắng và chất nhựa khô màu đen trong chén sứ + chất nhựa màu đen dính trên miệng lỗ ống tre thu giữ của Nguyễn Tiến S trong quá trình bắt quả tang ngày 29/3/2024, kết luận: Tìm thấy H2 (H) và thuốc phiện trong các mẫu chất rắn màu đen kí hiệu M1 và M2 gửi giám định. Hàm lượng, khối lượng chất ma túy trong các mẫu như sau:
| Kí hiệu mẫu | M1 (7,15 gam) | M2 (5,41 gam) |
|---|---|---|
| Hàm lượng Heroine (%) | 0,15 | 0,06 |
| Hàm lượng Morphine (%) | 1,05 | 0,23 |
| Khối lượng Heroine (gam) | 0,010 | 0,003 |
| Khối lượng thuốc phiện quy đổi (gam) | 0,750 | 0,124 |
Tại Bản kết luận giám định số 28C/KLGĐ, ngày 05/5/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và Bản kết luận giám định số 535/KL-KTHS, ngày 08/5/2024 của phòng K1 Công an tỉnh L đối với 08 gói chất bột màu trắng Nguyễn Tiến S khai là thuốc cảm, kết luận: Số chất bột khô màu trắng thu giữ của Nguyễn Tiến S trong quá trình bắt quả tang ngày 29/3/2024 có tổng khối lượng là 2,88 gam; Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định.
Như vậy, tổng khối lượng thuốc phiện, H2, Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Tiến S sau khi giám định có khối lượng: Thuốc phiện là 5,603 gam + 0,750 gam + 0,124 gam = 6,477 gam, Heroine là 0,010 gam + 0,003 gam = 0,013 gam, Methamphetamine là 0,67 gam.
Cáo trạng số 84/CT-VKSTP ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đã truy tố Nguyễn Tiến S về các tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tổ Phìn Văn V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Phìn Văn V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến S mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến S từ 07 năm 06 tháng năm đến 07 năm 09 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng mức hình phạt bị cáo Nguyễn Tiến S phải chịu từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.
- Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Phìn Văn V mức hình phạt từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt chưa chấp hành án tại Bản án số 38 ngày 15/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu là 22 năm 08 tháng 11 ngày tù. Hình phạt chung bị cáo Phìn Văn V phải chịu là 30 năm tù.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến S và áp dụng khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phìn Văn V. Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy:
- + Một hộp cát tông hình chữ nhật, theo hồ sơ bên trong gồm: 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng xanh đen; 01 túi nilon màu hồng; 01 gói được gói bên ngoài bằng mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng có in hình và chữ; 08 mảnh nilon màu trắng; 01 túi nilon màu hồng; 01 túi zip có khóa viền màu đỏ; 01 hộp bìa carton niêm phong vật chứng ban đầu; 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu;
- + Một hộp bìa carton màu xám, hình chữ nhật, theo hồ sơ bên trong gồm: 01 đĩa bằng kim loại hình chữ nhật; 01 gói nilon màu trắng; 01 mảnh giấy màu xanh đỏ vàng; 01 mảnh nilon một mặt màu bạc, một mặt màu đỏ trắng; 01 mảnh nilon màu vàng có in chữ màu nâu; 01 đèn dầu bằng kim loại có kẹp bấc và bóng đèn bằng thủy tinh; 01 hộp bìa niêm phong vật chứng ban đầu; 03 que kim loại có dính vết cháy màu đen; 01 chiếc chày gỗ màu nâu có dính vết cháy đen; 01 chén sứ màu trắng; 01 ống tre hình trụ tròn trên thân có 02 lỗ tròn; 2,27gam chất bột màu trắng được gói bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng; 08 mảnh giấy màu trắng, hình chữ nhật, trên vỏ có in chữ nước ngoài màu xanh;
- + Một hộp cát tông hình chữ nhật, trên mặt hộp ghi niêm phong số 2417/KL-KTHS, tại các mép dán được niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của V1 - Bộ C2 và chữ ký, họ tên của Hà Hoàng L1 và Bùi Văn T. Theo hồ sơ bên trong gồm có: 107,83 gam chất bột khô vón cục màu đen;
- + Một túi nilon có chứa 6,76 gam mẫu ký hiệu M1; 01 túi nilon có chứa 5,11 gam mẫu ký hiệu M2 và các vỏ bao gói trong niêm phong số 2414/C09 (TT2), trên mép dán có hình dấu của V1 và chữ ký, họ tên: Bùi Văn T, Đoàn Thị Lệ H3;
- + Một hộp bìa màu xám, hình hộp chữ nhật, theo hồ sơ bên trong gồm có: 01 lọ nhựa, đầu có gắn một ống nhựa hình trụ tròn màu xanh, thân ống có gắn ống kim loại màu bạc hình trụ tròn; Một mảnh giấy bạc có vết cháy đen; một chiếc bật lửa gas bằng nhựa màu vàng;
- Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý án phí, các bị cáo Nguyễn Tiến S, Phìn Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- * Tranh luận tại phiên tòa: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Cáo trạng, Kết luận nêu trên.
Tại lời nói sau cùng: Bị cáo Phìn Văn V ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được mức án thấp nhất;
Bị cáo Nguyễn Tiến S ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội và không có ý kiến đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hồi 16 giờ 00 phút ngày 29/3/2024, tại nhà ở của bị cáo Nguyễn Tiến S thuộc tổ A, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu, Nguyễn Tiến S và Phìn Văn V đang thực hiện hành vi tổ chức cho V, Đặng Hữu H1 và Ngô Tuấn C1 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở của S bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố L phối hợp với Công an phường Đ phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, quá trình bắt quả tang và khám xét khẩn cấp còn phát hiện, thu giữ tổng số 6,477 gam thuốc phiện, 0,013 gam Heroine và 0,67 gam Methamphetamine của S đang tàng trữ trái phép để sử dụng.
Đối với số H2 và Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Tiến S đều cùng thuộc một điểm tại các khoản của Điều 249 Bộ luật hình sự nên căn cứ quy định tại Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy nên cộng tổng khối lượng H2 và M là: 0,013 gam + 0,67 gam = 0,683 gam.
Căn cứ hướng dẫn khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì các chất ma túy thu giữ của S thuộc điểm b, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên phải tính tỷ lệ phần phần trăm về khối lượng của từng chất ma túy so với mức tối thiểu đối với từng chất theo quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sau đó công phần trăm về khối lượng của các chất để định khung, khoản. Tỷ lệ % khối lượng 6,727 gam thuốc phiện S so với mức tối thiểu 500 gam quy định tại điểm e khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 1,29 %, tỷ lệ % tổng khối lượng 0,683 gam Heroine và Methamphetamine của S so với mức tối thiểu 05 gam quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 13,66%. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng ma túy là 14,95%, dưới 100% nên thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Phìn Văn V có 04 tiền án, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội như nêu số trên trong thời gian đang được hoãn thi hành án phạt tù do bị bệnh nặng (HIV-AIDS) theo quyết định hoãn thi hành án phạt tù 01/2020/QĐ-CA ngày 09/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu với mức hình phạt được hoãn chấp hành là 22 năm 08 tháng 11 ngày, bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội khi chưa xóa án tích. Do đó có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Phìn Văn V thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với 02 người trở lên đều được quy định tại các điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định:
Điều 249. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:[ ...]
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này [...]
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần tài sản hoặc toàn bộ tài sản”.
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: [...]
b) Đối với 02 người trở lên; [...]
h) Tái phạm nguy hiểm; [...]
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Tiến S có vai trò là người phân công, điều hành, cung cấp địa điểm, chất ma túy, công cụ sử dụng ma túy; bị cáo Phìn Văn V có vai trò đồng phạm là người thực hành theo sự phân công điều hành của bị cáo Nguyễn Tiến S. Các bị cáo Phìn Văn V và Nguyễn Tiến S là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến S và bị cáo Phìn Văn V là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất rất nghiêm trọng. Bị cáo V, S đều là những người đã từng bị xét xử về tội phạm ma túy, hơn nữa bị cáo V là người bị kết án đang được hoãn thi hành án phạt tù. Nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà lại còn tiếp tục phạm tội. Hành vi của hai bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến S có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Phìn Văn V có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tại phiên tòa là có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
- Về nhân thân:
+ Bị cáo Nguyễn Tiến S không có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân đã nhiều lần bị Tòa án nhân dân xét xử về tội phạm ma túy theo các Bản án : Bản án số 23/2008/HSST ngày 04/4/2008 của Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu, xử phạt Nguyễn Tiến S 24 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và buộc S phải chịu 50.000 đồng án phí HSST. Ngày 19/8/2009 Nguyễn Tiến S chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí nên đã được xóa án tích; Bản án số 62/2013/HSST ngày 25/8/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu, xử phạt Nguyễn Tiến S 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và buộc S phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Ngày 26/8/2015 Nguyễn Tiến S chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí nên đã được xóa án tích; Bản án số 22/2018/HSST ngày 20/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, xử phạt Nguyễn Tiến S 33 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và buộc S phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Ngày 25/10/2019 Nguyễn Tiến S chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí nên đã được xóa án tích.
+ Bị cáo Phìn Văn V có nhân thân xấu, thể hiện bị cáo có 04 tiền án tại các Bản án như sau: Bản án số 14/HSST ngày 18/01/2001 của Tòa án nhân dân huyện Phong thổ, tỉnh Lai Châu (cũ), xử phạt 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bản án số 48/2005/HSST ngày 27/5/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu, xử phạt 09 năm tù về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; Bản án số: 09/2011/HSST ngày 12/12/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu (nay là thành phố L), xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tổng hợp hình phạt còn lại của bản án số 48/2005/HSST ngày 27/5/2005 của TAND tỉnh Lai Châu, hình phạt chung Phìn Văn V phải chấp hành là 09 năm 08 tháng 14 ngày tù; Bản án số 38/2020/HSST ngày 15/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, xử phạt Phìn Văn V 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt Phìn Văn V 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 12 năm 11 tháng 27 ngày tù (trừ 03 ngày tạm giữ). Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt tù chưa chấp hành của bản án số 09/2011/HSST ngày 12/12/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu, buộc bị cáo V phải chấp hành hình phạt tù là 22 năm 08 tháng 11 ngày tù. Bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt tù nên chưa được xóa án tích.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xét thấy cần áp dụng đối với các bị cáo. Bị cáo Phìn Văn V có bố là ông Phìn Văn D được Chủ tịch N2 tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì theo quyết định số 93KT/CT ngày 17/3/1999; Bị cáo Nguyễn Tiến S có bố đẻ là ông Nguyễn Văn Q được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Do vậy các bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, đồng thời cần có một mức hình phạt nghiêm khắc, đúng quy định của pháp luật nhằm tiếp tục răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Các bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án nhân dân xét xử nhưng bản thân các bị cáo vẫn coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội, khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 38, Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung theo quy định của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249, khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến S và theo quy định tại khoản 5 điều 255 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phìn Văn V. Các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 12,22 gam sái thuốc phiện, 0,67gam Methamphetamine, 2,88gam chất bột màu trắng (thuốc cảm) đã gửi giám định hết, Do vậy hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Đối với những vật chứng trong vụ án còn lại gồm:
- + Một hộp cát tông hình chữ nhật, theo hồ sơ bên trong gồm: 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng xanh đen; 01 túi nilon màu hồng; 01 gói được gói bên ngoài bằng mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng có in hình và chữ; 08 mảnh nilon màu trắng; 01 túi nilon màu hồng; 01 túi zip có khóa viền màu đỏ; 01 hộp bìa carton niêm phong vật chứng ban đầu; 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu;
- + Một hộp bìa carton màu xám, hình chữ nhật, theo hồ sơ bên trong gồm: 01 đĩa bằng kim loại hình chữ nhật; 01 gói nilon màu trắng; 01 mảnh giấy màu xanh đỏ vàng; 01 mảnh nilon một mặt màu bạc, một mặt màu đỏ trắng; 01 mảnh nilon màu vàng có in chữ màu nâu; 01 đèn dầu bằng kim loại có kẹp bấc và bóng đèn bằng thủy tinh; 01 hộp bìa niêm phong vật chứng ban đầu; 03 que kim loại có dính vết cháy màu đen; 01 chiếc chày gỗ màu nâu có dính vết cháy đen; 01 chén sứ màu trắng; 01 ống tre hình trụ tròn trên thân có 02 lỗ tròn; 2,27gam chất bột màu trắng được gói bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng; 08 mảnh giấy màu trắng, hình chữ nhật, trên vỏ có in chữ nước ngoài màu xanh;
- + Một hộp cát tông hình chữ nhật, trên mặt hộp ghi niêm phong số 2417/KL-KTHS, tại các mép dán được niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của V1 - Bộ C2 và chữ ký, họ tên của Hà Hoàng L1 và Bùi Văn T. Theo hồ sơ bên trong gồm có: 107,83 gam chất bột khô vón cục màu đen;
- + Một túi nilon có chứa 6,76 gam mẫu ký hiệu M1; 01 túi nilon có chứa 5,11 gam mẫu ký hiệu M2 và các vỏ bao gói trong niêm phong số 2414/C09 (TT2), trên mép dán có hình dấu của V1 và chữ ký, họ tên: Bùi Văn T, Đoàn Thị Lệ H3;
- + Một hộp bìa màu xám, hình hộp chữ nhật, theo hồ sơ bên trong gồm có: 01 lọ nhựa, đầu có gắn một ống nhựa hình trụ tròn màu xanh, thân ống có gắn ống kim loại màu bạc hình trụ tròn; Một mảnh giấy bạc có vết cháy đen; một chiếc bật lửa gas bằng nhựa màu vàng;
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 14 giờ 00 phút ngày 04/12/2024 giữa Công an thành phố L, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu).
[6] Đối với đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Các vấn đề khác:
Bị cáo Nguyễn Tiến S khai nhận nguồn gốc xái thuốc phiện là xin được của một người nghiện tại bãi vàng C thuộc huyện T, tỉnh Lai Châu trước khi bị bắt khoảng 3 - 4 năm còn M là mua được của một người đàn ông dân tộc Giáy tại khu vực đầu cầu treo thuộc bản Mới, xã S, thành phố L vào ngày 28/3/2024. Do bị cáo S không biết nhân thân lai lịch của hai người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Đối với việc Sùng Việt K sử dụng ma túy tại phòng ngủ của Nguyễn Tiến S. Quá trình điều tra K khai trước khi sử dụng đã xin phép S và S gật đầu đồng ý. Cơ quan điều tra đã tiến hành hết các biện pháp điều tra nhưng S không thừa nhận việc đồng ý cho K sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của mình. Bị cáo Phìn Văn V và những người làm chứng Đặng Hữu H1 và Ngô Tuấn C1 đều khai nhận không để ý nên không biết, ngoài lời khai của K không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý đối với S về hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Hữu H1, Ngô Tuấn C1, Sùng Việt K. Ngày 17/10/2024, Công an thành phố L đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với H1, C1 và K là đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với Triệu Chí C: Quá trình điều tra xác định khi Nguyễn Tiến S, Phìn Văn V, Đặng Hữu H1, Ngô Tuấn C1, Sùng Việt K sử dụng ma túy trái phép trong phòng ngủ của S thì C đang ở bên ngoài phòng khách nhà S sử dụng điện thoại và C khai không để ý nên không biết việc S, V, H1, C1, K làm gì trong phòng ngủ của S. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Triệu Chí C là có căn cứ.
Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu ngôi nhà tại tổ A, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu mà Nguyễn Tiến S thực hiện hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Thành X, sinh năm 1981, trú tại tổ A, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu. Tuy nhiên, anh X đã giao ngôi nhà này cho S quản lý và sử dụng từ năm 2019, anh X không biết S sử dụng ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của mình vào việc phạm tội nên anh X không đồng phạm với S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[8] Về án phí:
Buộc các bị cáo Nguyễn Tiến S, Phìn Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuỷ” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo Phìn Văn V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
[2] Về hình phạt:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến S 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến S 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.
- Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phìn Văn V 08 (tám) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo được khấu trừ 09 (chín) ngày tạm giữ (từ ngày 29/3/2024 đến ngày 07/4/2024). Bị cáo còn chấp hành 07 (bảy) năm 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án số 38/2020/HSST ngày 15/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu là 22 (hai mươi hai) năm 08 (tám) tháng 11 (mười một) ngày tù. Hình phạt chung bị cáo Phìn Văn V phải chấp hành là 30 (ba mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2024.
[3] Về vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy đối với các vật chứng gồm:
- + Một hộp cát tông hình chữ nhật, theo hồ sơ bên trong gồm: 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng xanh đen; 01 túi nilon màu hồng; 01 gói được gói bên ngoài bằng mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng có in hình và chữ; 08 mảnh nilon màu trắng; 01 túi nilon màu hồng; 01 túi zip có khóa viền màu đỏ; 01 hộp bìa carton niêm phong vật chứng ban đầu; 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu;
- + Một hộp bìa carton màu xám, hình chữ nhật, theo hồ sơ bên trong gồm: 01 đĩa bằng kim loại hình chữ nhật; 01 gói nilon màu trắng; 01 mảnh giấy màu xanh đỏ vàng; 01 mảnh nilon một mặt màu bạc, một mặt màu đỏ trắng; 01 mảnh nilon màu vàng có in chữ màu nâu; 01 đèn dầu bằng kim loại có kẹp bấc và bóng đèn bằng thủy tinh; 01 hộp bìa niêm phong vật chứng ban đầu; 03 que kim loại có dính vết cháy màu đen; 01 chiếc chày gỗ màu nâu có dính vết cháy đen; 01 chén sứ màu trắng; 01 ống tre hình trụ tròn trên thân có 02 lỗ tròn; 2,27gam chất bột màu trắng được gói bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng; 08 mảnh giấy màu trắng, hình chữ nhật, trên vỏ có in chữ nước ngoài màu xanh;
- + Một hộp cát tông hình chữ nhật, trên mặt hộp ghi niêm phong số 2417/KL-KTHS, tại các mép dán được niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của V1 - Bộ C2 và chữ ký, họ tên của Hà Hoàng L1 và Bùi Văn T. Theo hồ sơ bên trong gồm có: 107,83 gam chất bột khô vón cục màu đen;
- + Một túi nilon có chứa 6,76 gam mẫu ký hiệu M1; 01 túi nilon có chứa 5,11 gam mẫu ký hiệu M2 và các vỏ bao gói trong niêm phong số 2414/C09 (TT2), trên mép dán có hình dấu của V1 và chữ ký, họ tên: Bùi Văn T, Đoàn Thị Lệ H3;
- + Một hộp bìa màu xám, hình hộp chữ nhật, theo hồ sơ bên trong gồm có: 01 lọ nhựa, đầu có gắn một ống nhựa hình trụ tròn màu xanh, thân ống có gắn ống kim loại màu bạc hình trụ tròn; Một mảnh giấy bạc có vết cháy đen; một chiếc bật lửa gas bằng nhựa màu vàng;
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 14 giờ 00 phút ngày 04/12/2024 giữa Công an thành phố L, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu).
[4] Về án phí:
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí. Các bị cáo Nguyễn Tiến S, Phìn Văn V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo Nguyễn Tiến S, Phìn Văn V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Nga |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự Phìn Văn V và Nguyễn Văn S phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
