|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:29/2025/HS-ST. Ngày:18/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Mỳ
Bà Phan Thị Thu Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Anh Thư– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/TLST- HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Văn C (tên gọi khác: không), sinh năm 1990, tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Tổ D, ấp D, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam, con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1965 và bà Phan Thị N, sinh năm 1962. Có vợ Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1990 (đã ly hôn), có 01 sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân:
- Ngày 12/11/2008, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 01 năm 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2008 về tội “Trốn khỏi nơi giam”.
- Ngày 17/02/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt tại Bản án số 77/2008/HSST ngày 12/11/2008 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu buộc chấp hành chung 04 năm 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2008.
Đầu thú và bị tạm giữ ngày 04/10/2024. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1/ Chị Trần Lê Hương Q, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Ấp A, xã H (nay là xã T), huyện V, tỉnh Đồng Nai (Có đơn xin vắng mặt)
2/ Bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (Có đơn xin vắng mặt)
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Trần Đình T, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Tổ A, khu phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (Có đơn xin vắng mặt)
2/ Bà Phan Thị N, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Tổ D, ấp D, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn C không có việc làm ổn định, để có tiền tiêu xài C đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản của người dân trên địa bàn huyện V, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 14 giờ ngày 11/9/2024, C điều khiển xe mô tô Yamaha Taurus biển số 60B9-129.18 từ thị trấn V về xã P. Khi C đến khu vực ấp A, xã H (nay là xã T), huyện V, C nhìn thấy nhà chị Trần Lê Hương Q - sinh năm 1994, có cổng đang khóa, không có người. C dừng lại và giấu xe mô tô vào vườn tràm bên cạnh, đi ra phía sau nhà chị Q nhìn thấy cửa mở nên C chui qua hàng rào và đi theo cửa sau vào nhà. C vào phòng ngủ ở lầu 1 lấy túi xách để trên đầu tủ, kiểm tra trong túi có 8.000.000 đồng, 05 tờ đô la mệnh giá 100 USD, 01 tờ đô la mệnh giá 5 USD, 01 tờ đô la mệnh giá 2 USD, 05 tờ đô la mệnh giá 1 USD. C lấy số tiền và đô la cất giấu vào túi quần rồi tiếp tục lục tìm nhưng không có tài sản giá trị nên theo lối cửa sau ra lấy xe mô tô và điều khiển về nhà tại xã P, huyện V. C đã tiêu xài hết số tiền này. Chị Q về nhà phát hiện bị mất tài sản, nên đã trích xuất camera phát hiện có người lạ đột nhập vào nhà. Ngày 05/12/2024, chị Q đến Công an huyện V trình báo sự việc và cung cấp dữ liệu camera ghi lại diễn biến vụ mất trộm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã lập biên bản tiếp nhận tin báo về tội phạm và xử lý theo quy định pháp luật.
Tang vật tạm giữ: 01 USB hiệu Hoco 16GB chứa dữ liệu điện tử (đã được niêm phong) do chị Trần Lê Hương Q giao nộp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 49/KL-ĐGTS ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện V kết luận: 05 tờ tiền mỗi tờ mệnh giá 100 USD trị giá 12.150.000 đồng; 05 tờ tiền mệnh giá 1 USD trị giá 121.500 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 2 USD trị giá 48.600 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 5 USD trị giá 121.500 đồng. Tổng trị giá tài sản tiền và đô la bị chiếm đoạt của chị Q là 20.441.600 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 02/10/2024, C điều khiển xe mô tô Yamaha Taurus biển số 60B9-129.18 từ nhà thuộc tổ D, ấp D, xã P đến xã T tìm kiếm cơ hội trộm cắp tài sản. Khi đến tổ C, ấp A, xã T nhìn thấy nhà bà Nguyễn Kim H - sinh năm 1963 cổng đang khoá và không có người. C để xe mô tô ở vườn tràm bên cạnh, đi ra phía sau nhà thấy cửa sau mở nên leo hàng rào đột nhập vào nhà. C thấy phòng ngủ có khóa cửa nên quay ra sau nhà lấy cuốc chim vào đập vỡ cửa kính phòng ngủ, luồn tay mở chốt cửa vào phòng. C tiếp tục dùng cuốc chim cạy hộc tủ bàn trang điểm và lấy 02 lắc vàng 18K (trong đó 01 lắc có trọng lượng 1,5 chỉ; 01 lắc 2,9 chỉ); 02 nhẫn vàng 18K (01 nhẫn trọng lượng 2,3 chỉ, 01 nhẫn xanh ngọc bích khoảng 1,3 chỉ); 01 đôi bông tai vàng 18K. C cất giấu số vàng lấy trộm vào người rồi leo qua hàng rào ra ngoài. C điều khiển xe mô tô đến tiệm V thuộc khu phố E, thị trấn V liên hệ để bán 01 lắc vàng 18K, 01 nhẫn vàng 18K có gắn hột trắng và 01 đôi bông tai vàng 18K cho anh Vòng Thính C1 - sinh năm 1971 là chủ tiệm. Anh C1 không biết tài sản do C phạm tội mà có, nên đồng ý mua với giá 34.000.000 đồng. Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 02/10/2024, bà H về nhà phát hiện bị mất trộm nên đến Công an xã T trình báo sự việc và giao nộp 01 USB chứa dữ liệu điện tử liên quan đến hành vi trộm cắp của C. Công an xã T lập biên bản tiếp nhận tin báo về tội phạm và giải quyết theo quy định pháp luật.
Sáng ngày 04/10/2024, C mang số vàng trộm cắp còn lại gồm 01 lắc vàng có dây nối từ nhiều bi hình cầu và 01 nhẫn vàng có gắn đá màu xanh đến tiệm V1 thuộc tổ A, khu phố C, thị trấn V liên hệ để bán cho chị Võ Kim N1 - sinh năm 1984 là người quản lý tiệm. Chị N1 không biết tài sản do C phạm tội mà có, nên đồng ý mua với giá 19.600.000 đồng.
Số tiền bán vàng trộm cắp mà có, C sử dụng mua 01 nhẫn vàng trọng lượng 02 phân với giá 1.450.000 đồng, chuyển 21.600.000 đồng vào tài khoản số 611704060742462 tên Nguyen Van C mở tại Ngân hàng TMCP Q2 (V2), tiêu xài hết 25.050.000 đồng, còn giữ lại 5.500.000 đồng.Sau khi Công an tiếp nhận nguồn tin và tiến hành xác minh, khoảng 10 giờ 45 phút ngày 04/10/2024 C đến Công an xã T đầu thú khai nhận hành vi phạm tội. Công an xã T lập biên bản tiếp
nhận người phạm tội ra đầu thú, chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.+ Tang vật, tài sản thu giữ: - Nguyễn Văn C giao nộp: xe mô tô Yamaha Taurus biển số 60B9 -12918; 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 02 phân; 01 điện thoại di động Oppo A92; số tiền 5.500.000 đồng (gồm 11 tờ có mệnh giá 500.000 đồng).- Anh Trần Đình T - Chủ tiệm V1 giao nộp: 01 lắc vàng dây được kết nối từ nhiều bi hình trụ trọng lượng 2,8 chỉ; 01 nhẫn vàng có đính mặt đá màu xanh trọng lượng 2,4 chỉ; 01 đoạn clip dữ liệu điện tử hình ảnh giao dịch mua bán vàng lúc 09 giờ 31 phút ngày 04/10/2024. - Bà Nguyễn Kim H giao nộp: 01 USB lưu trữ 01 clip ghi nhận hình ảnh đối tượng thực hiện trộm cắp tài sản; 01 cuốc chim cán gỗ hình chữ nhật.- Anh Vòng T1 Cầm cung cấp 01 đoạn clip dữ liệu hình ảnh giao dịch mua bán vàng ngày 02/10/2024.
Tất cả dữ liệu điện tử do Nguyễn Thị Kim H, Trần Đình T, Vòng Thính C1, Trần Lê Hương Q giao nộp chứa trong USB được lưu vào hồ sơ vụ án.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã phong tỏa số tiền 20.580.652 đồng của Nguyễn Văn C trong tài khoản số 6117040607 42462 tại Ngân hàng TMCP Q2 - Chi nhánh Đ1.
Đối với số vàng Nguyễn Văn C bán cho tiệm V, đã chế tác thành sản phẩm khác nên không thu hồi được.
+ Tại Kết luận định giá tài sản số 38/KL-ĐGTS ngày 08/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 lắc vàng 18k trọng lượng 1,5 chỉ giá 10.170.000 đồng; 01 lắc vàng 18k trọng lượng 2,9 chỉ giá 19.662.000 đồng; 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 2,3 chỉ giá 15.594.000 đồng; 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 1,3 chỉ giá 8.814.000 đồng; 01 đôi bông tai vàng 18k trọng lượng 01 chỉ giá 6.780.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt của bà H là 61.020.000 đồng.
Kết quả xác minh xác định xe mô tô 60B9-129.18 do bà Phan Thị N - sinh năm 1962 ngụ tại ấp D, xã P, huyện V (mẹ của Nguyễn Văn C) đứng tên chứng nhận đăng ký. Bà N2 cho C mượn xe mô tô để đi làm, không biết C sử dụng vào việc trộm cắp tài sản.
*Trách nhiệm dân sự:
- Gia đình Nguyễn Văn C đã bồi thường cho bà Nguyễn Kim H 53.509.000 đồng, bà H không yêu cầu bồi thường thêm.
- Bị hại chị Trần Lê Hương Qyêu cầu Nguyễn Văn C bồi thường 20.441.600 đồng; anh Trần Đình T yêu cầu Nguyễn Văn C hoàn trả 19.690.000 đồng tiền mua vàng.
*Về tang vật, tài sản tạm giữ:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã giao trả xe mô tô biển số 60B9-129.18 cho bà Phan Thị N; 01 cuốc chim có cán gỗ hình chữ nhật cho bà Nguyễn Kim H.
-Vật chứng gồm: 05 (Năm) hoá đơn mua bán vàng: lưu hồ sơ vụ án.
- Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 579, 589 Bộ luật Dân sự tuyên:
+ Giao trả 01 điện thoại di động Oppo A92 cho Nguyễn Văn C.
+ Buộc Nguyễn Văn C trả lại cho anh Trần Đình T 19.690.000 đồng và bồi thường cho chị Trần Lê Hương Q số tiền 20.441.600 đồng.
+Tiếp tục tạm giữ 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 02 phân; số tiền 5.500.000 đồng; 01 lắc vàng dây được kết nối từ nhiều bi hình trụ, trọng lượng 2,8 chỉ; 01 nhẫn vàng có đính mặt đá màu xanh trọng lượng 2,4 chỉ để đảm bảo thi hành án.
- Bản cáo trạng số: 22/CT-VKSVC ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bà Nguyễn Kim H, chị Trần Lê Hương Q, anh Trần Đình T và bà H, chị Q, anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 579, 589 Bộ luật dân sự tuyên:
Giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động Oppo A92; 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 02 phân; số tiền 5.500.000 đồng; 01 lắc vàng dây được kết nối từ nhiều bi hình trụ, trọng lượng 2,8 chỉ; 01 nhẫn vàng có đính mặt đá màu xanh trọng lượng 2,4 chỉ. Hủy bỏ lệnh phong tỏa tài khoản số 605/LPT-ĐTTH ngày 19/12/2024 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai đối với số tiền 20.580.652 đồng trong tài khoản số 611704060742462 tại Ngân hàng TMCP Q2 - Chi nhánh Đ1 của Nguyễn Văn C.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi của bị cáo, mong Hội đồng xét xử xem xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 11/9/2024, tại nhà chị Trần Lê Hương Q thuộc ấp A, xã H (nay là xã T), huyện V, Nguyễn Văn C trộm cắp 8.000.000 đồng, 512 USD của của chị Trần Lê Hương Q. Tổng giá trị giá tài sản chiếm đoạt là 20.441.600 đồng.
Ngày 02/10/2024, tại nhà bà Nguyễn Kim H thuộc tổ C, ấp A, xã T, huyện V, Nguyễn Văn C trộm cắp 02 lắc vàng 18k (gồm 01 lắc 1,5 chỉ và 01 lắc 2,9 chỉ); 02 nhẫn vàng 18k (gồm 01 nhẫn 2,3 chỉ và 01 nhẫn xanh ngọc bích 1,3 chỉ); 01 đôi bông tai vàng 18k của bà Nguyễn Kim H. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 61.020.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã truy tố là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo cũng vì lòng tham của bản thân lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản đã thực hiện hành vi trái pháp luật là trộm cắp tài sản của các bị hại tổng số tiền 81.461.600 đồng, bị cáo đã bồi thường cho các bị hại, người liên quan, các bị hại, người liên quan đã làm đơn bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân xấu từng có hai bản án về tội “ Trốn khỏi nơi giam” và tội “Cướp tài sản” nhưng không xem đó là bài học tu dưỡng,
rèn luyện bản thân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại, người liên quan và bị hại, người liên quan có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có cha bị bệnh mất trí trong bệnh mạch máu, động kinh toàn thể hóa tiên phát, mẹ bị cáo bị suy thận, bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đầu thú, bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ, bác là người có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bà Nguyễn Kim H, chị Trần Lê Hương Q, anh Trần Đình T và bà H, chị Q, anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 579, 589 Bộ luật dân sự:
- Giao trả 01 điện thoại di động Oppo A92; 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 02 phân; số tiền 5.500.000 đồng; 01 lắc vàng dây được kết nối từ nhiều bi hình trụ trọng lượng 2,8 chỉ; 01 nhẫn vàng có đính mặt đá màu xanh trọng lượng 2,4 chỉ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai)
Hủy bỏ lệnh phong tỏa tài khoản số 605/LPT-D0TTH ngày 19/12/2024 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai đối với số tiền 20.580.652 đồng trong tài khoản 611704060742462 tại Ngân hàng TMCQ2
[7] Về vấn đề khác: Đối với anh Vòng Thính C1 và chị Võ Kim N1 mua vàng của C nhưng không biết do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên tại phiên toà: Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C: 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2024.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 579, 589 Bộ luật dân sự :
- Giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động Oppo A92;
Tiếp tục tạm giữ 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 02 phân; số tiền 5.500.000 đồng; 01 lắc vàng dây được kết nối từ nhiều bi hình trụ trọng lượng 2,8 chỉ; 01 nhẫn vàng có đính mặt đá màu xanh trọng lượng 2,4 chỉ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai)
Hủy bỏ lệnh phong tỏa tài khoản số 605/LPT-ĐTTH ngày 19/12/2024 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai đối với số tiền 20.580.652 đồng trong tài khoản 611704060742462 tại Ngân hàng TMCP Q2-Chi nhánh Đ1 của Nguyễn Văn C.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị N có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại bà Nguyễn Kim H, chị Trần Lê Hương Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Đình T vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quỳnh |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173
