|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày 19-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Huy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Bích Lệ.
- Ông Trần Ngọc Đổi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đa Văn Thắng là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS, ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thế B, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1997, nơi sinh tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Kiều Thị Út H; vợ, con: Chưa có;
Tiền án:
- Ngày 08/11/2018, Nguyễn Thế B bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 73/2018/HSST. Ngày 27/4/2019 B chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích).
- Ngày 29/11/2021, Nguyễn Thế B bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 106/2021/HSST. Ngày 11/01/2023 B chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích).
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 06/01/2021, Nguyễn Thế B bị Công an thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 1.500.000 đồng.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/9/2024 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại: Ông Lê Chính P, sinh năm 1980 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Kim Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
- Người làm chứng:
+ Dương Nhật V, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
+ Nguyễn Hoàng P1, sinh năm 1963 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thế B có 02 tiền án chưa xóa án tích, cụ thể: Tại Bản án số 73/2018/HSST ngày 08/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt Nguyễn Thế B 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 27/4/2019, B chấp hành xong hình phạt tù về địa phương sinh sống đến ngày 14/01/2021 B tiếp tục phạm tội và bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt Nguyễn Thế B 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 106/2021/HSST ngày 29/11/2021, ngày 11/01/2023 B chấp hành xong hình phạt tù về địa phương sinh sống đến ngày 13/9/2024 B tiếp tục phạm tội, cụ thể:
Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 13/9/2024, Nguyễn Thế B một mình đi xe buýt đến thôn B, xã P, huyện B để mục đích tìm kiếm tài sản lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến nơi B đi bộ dọc theo đường Q đến khu vực Đội truyền tải điện B, B thấy có 01 bãi kho sắt phế liệu của ông Lê Chính P, có khóa cửa cổng bằng sắt ốp tôn màu trắng đóng lại, B quan sát xung quanh không thấy ai nên B trèo qua cửa cổng vào kho sắt phế liệu B lấy trộm được một số sắt gồm: 03 cái sẹt mâm máy xúc; 02 trục xoắn máy gặt đập liên hợp; 05 bánh tăng máy gặt; 01 trụ thùng xe tải, tất cả đều được làm bằng sắt. B lấy số sắt phế liệu trên đưa ra ngoài cửa kho, còn một số sắt nhỏ gọn thì B quăng ra ngoài qua trên cửa kho, sau đó B leo ra ngoài kho tập hợp lại số sắt trên để sát đường Q trước cửa kho phế liệu. Lúc này thì tình cờ có Kim Nguyễn Ngọc H1 (thường gọi là Năm già) điều khiển xe mô tô biển số 85R2-3791 chạy từ hướng Chợ L đi xã P ghé vào quán bánh xèo gần kho phế liệu của anh P. B nhìn thấy H1 nên đi đến gặp H1 và nói “Anh N1, em có sắt, bây giờ anh chở cho em, em chia tiền cho anh”, H1 hỏi B “sắt ở đâu” thì B nói “ở trong kho”, sau khi nghe B nói vậy thì H1 biết rõ số sắt này là do B trộm được ở trong kho phế liệu nên H1 đồng ý. B lượm 01 cái bao nylon ngoài cửa kho để bỏ số sắt có kích thước nhỏ vào bao để lên yên xe mô tô của H1, còn số cây sắt to dài thì B để dưới lề đường chỗ xe mô tô của H1 đứng chờ. B tiếp tục vào trong kho phế liệu lấy trộm 01 cây sắt dằn đường kính 28mm dài 2m, vì cây sắt này nặng không đưa lên trên cửa kho được nên B phải kéo cây sắt dằn thông qua khoảng trống dưới cửa kho. Lúc này, H1 đang ngồi trên yên xe mô tô để chờ B lấy 01 cây sắt dằn đường kính 28mm, dài khoảng 02m chở toàn bộ số sắt trộm được đi bán lấy tiền tiêu xài thì có anh Dương Nhật V phát hiện nên chạy đến và ôm giữ được H1 đang ngồi trên xe máy cùng với số sắt do B vừa lấy trộm được, riêng B đã bỏ chạy thoát về hướng thị trấn C, sau khi tiếp nhận tin báo từ ông Lê Chính P, lực lượng Công an xã P đến ngay hiện trường đưa H1 cùng tang vật về trụ sở Công an xã làm việc, tại Công an xã P, H1 khai nhận hành vi của mình. Quá trình tạm giữ số tang vật do B trộm, đã cân số sắt này có tổng khối lượng là 106 kg. Sau khi được Công an mời làm việc, B đã thừa nhận hành vi của mình nói trên.
Ngày 22/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 03 cái sẹt mâm máy xúc; 02 trục xoắn máy gặt đập liên hợp; 01 cây sắt dằn đường kính 28mm, dài khoản 2m; 05 bánh tăng máy gặt; 01 trụ thùng xe tải trên gửi Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B.
Tại Bản kết luận định giá tài sản 111/2024/KL-HĐĐGTS ngày 24/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện B kết luận:
03 (Ba) cái sẹt mâm máy xúc; 02 (Hai) Trục xoắn máy gặt đập liên hợp; 01 (Một) cây sắt dằn đường kính 28mm, dài khoảng 02m; 05 (Năm) bánh tăng máy gặt; 01 (Một) trụ thùng xe tải, tất cả đều bằng sắt có tổng trọng lượng là 106kg được mua cũ vào tháng 5/2024 với giá phế liệu tại thời điểm bị mất trộm ngày 13/9/2024 có giá trị là 795.000 đồng (Bảy trăm chín mươi năm nghìn đồng).
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và việc xử lý vật chứng:
Tại hiện trường Công an thu giữ số tài sản của ông Lê Chính P bị trộm cắp gồm 03 (Ba) cái sẹt mâm máy xúc; 02 (Hai) Trục xoắn máy gặt đập liên hợp; 01 (Một) cây sắt dằn đường kính 28mm, dài khoảng 02m; 05 (Năm) bánh tăng máy gặt; 01 (Một) trụ thùng xe tải; và 01 chiếc xe mô tô biển số 85R-3791 do Kim Nguyễn Ngọc H1 điều khiển.
Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra quyết định xử lý vật chứng số 1356/QĐ-PRT ngày 07/10/2024 đối với số tài sản gồm 03 (Ba) cái sẹt mâm máy xúc; 02 (Hai) Trục xoắn máy gặt đập liên hợp; 01 (Một) cây sắt dằn đường kính 28mm, dài khoảng 02m; 05 (Năm) bánh tăng máy gặt; 01 (Một) trụ thùng xe tải bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là ông Lê Chính P.
Đối với xe mô tô biển số 85R2-3791 do Kim Nguyễn Ngọc H1 điều khiển, xe mô tô này là của ông Kim Bình Y (cha ruột của H1) mua cách đây 6-7 năm của một người ở T, thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng, H1 lén lấy đi nhưng ông Y không biết, quá trình xác minh xe mô tô biển số 85R2-3791 là do bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1955, thường trú tại khu phố C, phường Đ, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận đứng tên sở hữu, bà M khai xe mô tô trên bà M đã bán cho một người đàn ông không nhớ rõ nhân thân cách đây 8-9 năm, nay bà M cũng không có yêu cầu gì. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho ông Kim Bình Y.
Về phần bồi thường dân sự: Bị hại Lê Chính P đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
*Tại Cáo trạng số 10/CT-VKSBB ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Thế B về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:
Giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế B mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Bị cáo trình bày: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai, việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Nguyễn Thế B đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 106/2021/HSST ngày 29/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, chưa được xóa án tích, thế nhưng do muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 13/9/2024, khi phát hiện bãi kho sắt phế liệu của ông Lê Chính P, không có ai trông coi nên bị cáo B đã trèo qua cửa cổng vào kho sắt phế liệu rồi lén lút lấy trộm được một số sắt gồm: 03 cái sẹt mâm máy xúc; 02 trục xoắn máy gặt đập liên hợp; 05 bánh tăng máy gặt; 01 trụ thùng xe tải, với tổng trị giá là 795.000 đồng. Khi bị cáo B đang tính chở số sắt nêu trên đi tiêu thụ thì bị anh Dương Nhật V phát hiện và trình báo công an.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thế B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Đã bị kết án về tội này..., chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Thế B thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên bị cáo Nguyễn Thế B được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Thế B đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 73/2018/HSST ngày 08/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6] Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thế B là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải nghiêm trị, dành cho bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Đối với hành vi của Kim Nguyễn Ngọc H1: Sau khi bị cáo B đưa toàn bộ số sắt ra khỏi kho phế liệu, bị cáo B thấy H1 chạy xe qua thì bị cáo B nhờ H1 chở B cùng toàn bộ số sắt mà bị cáo B trộm được đi bán và hứa sẽ chia tiền nên H1 đồng ý. Quá trình điều tra, vào ngày 05/5/2021 H1 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 05/7/2022 H2 chấp hành xong về địa phương (đã được xóa án tích), đến ngày 13/9/2024 H1 giúp sức cho B thực hiện hành vi trộm cắp, tuy nhiên qua định giá tài sản trộm cắp có giá trị là 795.000 đồng, H1 cũng không có tiền án, tiền sự nên hành vi của H1 không đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ cho Công an xã P xử lý vi phạm hành chính đối với Kim Nguyễn Ngọc H1 là có căn cứ.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Chính P đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về vật chứng:
Đối với xe mô tô biển số 85R2-3791 do Kim Nguyễn Ngọc H1 điều khiển, xe mô tô này là của ông Kim Bình Y (cha ruột của H1) mua cách đây 6-7 năm của một người ở T, thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng, H1 lén lấy đi nhưng ông Y không biết. Quá trình xác minh xe mô tô biển số 85R2-3791 là do bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1955, thường trú tại khu phố C, phường Đ, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận đứng tên sở hữu, bà M khai xe mô tô trên bà M đã bán cho một người đàn ông không nhớ rõ nhân thân cách đây 8-9 năm, nay bà M cũng không có yêu cầu gì. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho ông Kim Bình Y là phù hợp.
[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế B 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 9 năm 2024.
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thế B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/3/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hoàng Huy |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế B phạm tội trộm cắp tài sản
