Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-ST.

Ngày 17/6/2025.

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Quyến.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Ngô Song Việt – Giáo viên Trường THPT Ngô Mây, Phù Cát;
    2. Bà Nguyễn Thị Dung – Cán bộ hưu trí.
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Đặng Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HS, ngày 01 tháng 04 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần C (tên gọi khác: không); giới tính: Nam; sinh ngày 01 tháng 04 năm 2004 tại: C, P, Bình Định nơi cư trú: thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; số CCCD/định danh: [...]; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Trần B, sinh năm: 1980 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1980; anh, chị, em ruột: 03 người; bị cáo là con cả; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự : không;

Bị cáo bị khởi tố ngày 15/01/2025; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện P1(nay là P tạm giam khu vực Pthuộc Công an tỉnh B3(có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Đức T1 (tên gọi khác: không); giới tính: Nam; sinh ngày 12 tháng 10 năm 2005 tại: C, P, Bình Định nơi cư trú: thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; số CCCD/định danh: [...]; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Nguyễn Đức M (chết) và bà Ngô Thị T2, sinh năm: 1961; anh, chị, em ruột: 07 người; bị cáo là con út; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

2

Đặc điểm nhân thân: Ngày 19/03/2025, bị TAND huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xử phạt 15 tháng tù về “Tội gây rối trật tự công cộng” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;

Bị cáo bị khởi tố ngày 15/01/2025; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện P1(nay là P tạm giam khu vực Pthuộc Công an tỉnh B3(có mặt).

3. Họ và tên: Nguyễn Hữu D (tên gọi khác: không); giới tính: Nam; sinh ngày 20 tháng 04 năm 2008 tại: C, P, Bình Định nơi cư trú: khu phố C, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; số CCCD/định danh: [...]; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1979 và bà Đàng Thị Tuyết Q, sinh năm: 1984; anh, chị, em ruột: 03 người, bị cáo là con thứ 2; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị khởi tố ngày 15/01/2025; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 cho đến tại Nhà tạm giữ Công an huyện P1(nay là P tạm giam khu vực Pthuộc Công an tỉnh B3, (có mặt).

4. Họ và tên: Hồ Xuân T12 (tên gọi khác: không); giới tính: Nam; sinh ngày 25 tháng 03 năm 2007 tại: C, P, Bình Định nơi cư trú: thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; số CCCD/định danh: [...]; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Hồ Xuân B1, sinh năm: 1976 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1981; anh, chị, em ruột: 02 người, bị cáo là con út; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị khởi tố ngày 15/01/2025; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 tại Nhà tạm giữ Công an huyện P1(nay là P tạm giam khu vực Pthuộc Công an tỉnh B đến ngày 26/4/2025 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. (có mặt).

  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hữu D:
  • Ông Nguyễn Văn T3; sinh năm 1979; nơi cư trú: khu phố C, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định (có mặt);

  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hồ Xuân T12:
  • Ông Hồ Xuân B1sinh năm: 1976; nơi cư trú: thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (có mặt).

  • - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu D:
  • Bà Phan Thị Ngọc H năm 1988 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T15 (có mặt)

  • - Người bào chữa cho bị cáo Hồ Xuân T12:
  • Ông Nguyễn Ngọc Quốc L năm: 1977 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T15 (có mặt)

3

  • * Người làm chứng:
    1. Nguyễn Xuân T4, sinh ngày 01/02/2009; nơi cư trú: thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định(vắng mặt);
    2. - Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Xuân T4: Ông Nguyễn Xuân Đ, sinh năm: 1974; nơi cư trú: thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. (vắng mặt)

    3. Nguyễn Văn L1sinh ngày 29/5/2009; nơi cư trú: thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định(vắng mặt)
    4. - Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Văn L1: Bà Nguyễn Thị C1sinh năm: 1973; nơi cư trú: thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/12/2024 và ngày 02/01/2025, Trần C, sinh năm: 2004, ở thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Địnhliên hệ với một người tên K1 ở huyện P, tỉnh Bình Định(không xác định được thông tin về lý lịch nhân thân của người này) lần lượt mua được 1.000.000 đồng và 750.000 đồng ma túy, loại: Methamphetamine (gọi tắt là ma túy đá). Sau khi mua được ma túy đá, C1 về chỗ ở thuộc thôn C, xã C, huyện P ra để vừa bán, vừa sử dụng. Cụ thể, Trần C2 05 lần trực tiếp bán ma túy đá cho nhiều đối tượng, để những người này sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ 08 phút ngày 02/01/2025, Nguyễn Đức T1, sinh năm: 2005, ở thôn H, xã C, huyện P Zcho Cđặt mua 500.000 đồng ma túy đá (gọi tắt là 1 cái năm), kèm 01 nỏ thủy tinh. Cđồng ý bán và bảo T1chuyển tiền trước rồi đến Cầu Đ thuộc thôn C, xã C, huyện P, nhận ma túy. Sau đó, T1sử dụng tài khoản cá nhân số 21121020059999 T11chuyển 500.000 đồng vào tài khoản số 9590898989 T11 do C đăng ký đứng tên. Sau khi chuyển tiền, T1đến điểm hẹn gặp C3 được C4 cho 1 cái 5 ma túy đá được bỏ trong 01 túi nilon hàn kín và 01 nỏ thủy tinh.

Lần thứ 2: Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 04/01/2025, Ctiếp tục bán cho T1300.000 đồng ma túy đá (gọi tắt: 1 cái 3), kèm 01 nỏ thủy tinh. Tín chuyển vào tài khoản số 9590898989 T11của C 300.000 đồng và được C4 cho 01 cái 3 ma túy đá, kèm 01 nỏ thủy tinh tại Cầu Đ, thuộc thôn C, xã C khi, mua được ma túy đá, T1đem về nhà sử dụng 01 mình.

Lần thứ 3: Chiều ngày 04/01/2025, Phạm Trần Minh T5, sinh năm 1999, ở khu phố N, thị trấn C, huyện P cho C5 mua 300.000 đồng ma túy đá. Cđồng ý bán. Thỏa sử dụng tài khoản số 6789678919999 Vđăng ký đứng tên Thỏa, chuyển 300.000 đồng đến tài khoản số 9590898989 T11của CSau đó, Clấy 1 cái 3 ma túy đá bỏ trong 01 vỏ gói thuốc lá Jet rồi đem để trước đầu xe ô tô của Tóđang đỗ trước nhà, rồi nhắn tin cho Tóra lấy. Sau khi có ma túy, Tóđem vào nhà sử dụng một mình.

4

Lần thứ 4: Khoảng 20 giờ ngày 04/01/2025, Nguyễn Hữu D, sinh ngày 20/4/2008, ở khu phố C, thị trấn C, huyện P, sinh ngày 29/5/2009, ở thôn H, xã C, huyện P, N, sinh ngày 01/02/2009, ở thôn C, xã C, huyện P, sinh ngày 25/3/2007, ở thôn H, xã C, huyện P tiền mua ma túy đá đem đến vọng gác cứu hộ tại bờ biển thuộc khu phố C, thị trấn C, huyện P sử dụng chung thì được cả nhóm đồng ý. Lành góp 400.000 đồng, D1 100.000 đồng, rồi Dliên hệ với C6 mua 500.000 đồng ma túy đá, kèm 01 nỏ thủy tinh. Cđồng ý bán và gửi mã QR tài khoản của C7 ứng dụng tin nhắn Messenger của DNguyễn Văn L1dùng tài khoản số 0376946832 M2do L1 đăng ký đứng tên quét mã QR, chuyển cho C500.000 đồng. Sau đó, D2 khiển xe mô tô chở T4đến cầu C, xã C gặp Cđược C 1 cái 5 ma túy đá đựng trong 01 uống hút nhựa hàn kín 02 đầu và 01 nỏ thủy tinh.

Lần thứ 5: Khoảng 21 giờ ngày 04/01/2025, Hồ Xuân B2, sinh năm 1991, ở thôn H, xã C, huyện P cho C6 mua 300.000 đồng ma túy đá. Cđồng ý bán. Bạn sử dụng tài khoản số 9878149878 M2do B2đứng tên chuyển đến tài khoản số 9590898989 T11của Csố tiền 350.000 đồng (trong đó có 300.000 đồng tiền mua ma túy đá và 50.000 đồng tiền xăng). Cđem 1 cái 3 ma túy đá đến nhà giao cho B2Sau khi có ma túy, B2sử dụng 01 mình tại nhà.

Sau khi mua được 1 cái 5 ma túy đá do C bán vào trưa ngày 02/01/2025, Tlmang số ma túy này về chỗ ở thuộc thôn H, xã C, huyện P rồi điện thoại và nhắn tin rủ Hồ Xuân T12 và Nguyễn Hữu D3 chỗ ở của mình cùng nhau sử dụng. Trong lúc chờ Dvà T4đến, T1tự lắp ráp bộ dụng cụ sử dụng ma túy hoàn chỉnh, xé gói ma túy đá đổ vào nỏ thủy tinh rồi sử dụng trước. Một lúc sau, Dvà T4đến, cả hai cùng sử dụng ma túy đá với Tlrồi đi về. Sau khi sử dụng hết ma túy, T1lấy nắp chai còn gắn ống hút và vỏ nilon chứa ma túy bỏ vào tủ quần áo của mình; còn nỏ thủy tinh và vỏ chai nước Tlđem ra phía sau nhà vứt xuống suối.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/01/2025, sau khi mua được 1 cái 5 ma túy đá của CDvà T4mang ma tuý đến địa điểm đã hẹn với L1và T5Trên đường đi, Dvà T4mua thêm 01 chai nước Sting, ống hút nhựa, nước suối, mì tôm, thuốc lá rồi mang tất cả đến vọng gác. Khi đến nơi, L1và T5 đã đến trước đợi sẵn. T4DL1và T5vào 01 phòng dưới vọng gác để chuẩn bị sử dụng ma túy đá với nhau. T4dùng bật lửa hơ nóng nỏ thủy tinh rồi khoan thủng 02 lỗ trên nắp chai Sting, lắp nỏ thủy tinh và ống hút vào chai Stạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. T5dùng kéo (do D4 đến) cắt ống nhựa chứa ma túy đá, đổ ra giấy bạc thuốc lá rồi đưa cho T4để đổ vào nỏ thủy tinh. T5cầm nỏ thủy tinh và dùng 01 cành cây khô đẩy ma túy đá từ giấy bạc vào trong bầu nỏ. Ddùng bật lửa đốt nóng bầu nỏ thủy tinh cho ma túy đá chảy ra rồi đưa D5 trước, sau đó đến đưa cho T4T5L1lần lượt sử dụng hết ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong, T4mở nắp chai Sting, bỏ nỏ thủy tinh, ống hút vào chai, đem chai vứt ra biển rồi cả 4 đi về nhà.

Ngày 07/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện P khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần C chỗ ở của N khu vực vọng gác cứu hộ bờ biển đã thu giữ được

5

các vật chứng:

  1. Tại chỗ ở của Cđã thu giữ được:
    • - 01 bình sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa, nắp màu xanh, kích thước (11,5 x 5)cm, trên nắp có đục 02 lỗ tròn: 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, kích thước (19 x 0,5)cm, 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh kích thước (13 x 4,5)cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể nghi là ma túy;
    • - 01 bình sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa chưa qua sử dụng, gồm: 01 chai nhựa nắp màu trắng, kích thước (14 x 5)cm, trên nắp có đục 02 lỗ tròn: 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, kích thước (21 x 0,5)cm, 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh, kích thước (12 x 4,5) cm;
    • - 01 cây kéo bằng kim loại, kích thước (16,5 x 5)cm;
    • - 01 cây kéo bằng kim loại, kích thước (8,5 x 4)cm;
    • - 02 vỏ nilon nghi đựng ma túy, đã qua sử dụng, có cùng kích thước (2x1)cm;
    • - 01 bật lửa màu xanh, gắn tim lửa, kích thước (8,5 x 2)cm;
    • - 01 bình ga mi ni màu xanh, hiệu IKURA, kích thước (19 x 7) cm, gắn 01 đầu khò kích thước (18,5 x 6)cm.
  2. Tại chỗ ở của Nguyễn Đức T1 đã thu giữ được:
    • - 01 vỏ nilon, kích thước (2 x 1)cm, bên trong bám dính các hạt tinh thể li ti, màu trắng nghi là ma túy;
    • - 01 nắp chai màu đỏ, kích thước (3 x 1)cm, được đục 02 lỗ tròn: 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu đen, kích thước (5,5 x 0,5)cm, 01 lỗ trống.
  3. Tại khu vực vọng gác cứu hộ bờ biển thuộc khu phố C, thị trấn C, huyện P được:
    • - 02 vỏ nilon nghi đựng ma túy, đã qua sử dụng đều bám dính chất nghi là ma túy, có kích thước (1,5 x 1)cm, (1 x 0,5)cm;
    • - 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, kích thước (3 x 0,5)cm.

Theo Bản kết luận giám định số 14 và số 23/KL-KTHS ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Phòng K2- Công an tỉnh B3 đã kết luận:

  • - Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A1) bám dính bên trong 01 vỏ nilon, kích thước (1,5 x 1)cm thu giữ tại vọng gác cứu hộ thuộc khu phố C, thị trấn C, P giám định là ma túy, loại: Methamphetamine; lượng chất bám dính ít không đủ để xác định khối lượng;
  • - Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A2) bám dính bên trong 01 vỏ nilon, kích thước (1 x 0,5)cm được thu giữ tại vọng gác cứu hộ thuộc KP. Chánh Lợi, thị trấn C, P gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, lượng chất bám dính ít không đủ để xác định khối lượng;
  • - Chất bám dính (ký hiệu A3) bên trong 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng,

6

kích thước (3 x 0,5)cm, được thu giữ tại vọng gác cứu hộ, thuộc KP. Chánh Lợi, thị trấn C, P, gửi giám định không tìm thấy chất ma túy, lượng chất bám dính ít không đủ để xác định khối lượng;

  • - Chất rắn màu nâu (ký hiệu A4) bám dính bên trong 01 nỏ thủy tinh, kích thước (13 x 4,5)cm, được thu giữ tại nhà Trần Cở thôn C, xã C, huyện P là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng 0,0498 gam;
  • - Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A5) bám dính bên trong 01 vỏ nilon, kích thước (2 x 1)cm, được thu giữ tại nhà Trần Cở thôn C, xã C, huyện P giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, lượng chất bám dính ít không đủ để xác định khối lượng;
  • - Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A6) bám dính bên trong 01 vỏ nilon, kích thước (2 x 1)cm, được thu giữ tại nhà Trần Cở thôn C, xã C, huyện P, gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, lượng chất bám dính ít không đủ để xác định khối lượng;
  • - Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A) bám dính bên trong 01 gói nilon, kích thước (2 x 1)cm, được thu giữ tại nhà Nguyễn Đ1 Tlở thôn H, xã C, huyện P, gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, lượng chất bám dính ít không đủ để xác định khối lượng.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của các đối tượng:

  • - Ngày 05/01/2025, Công an thị trấn C hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể của Nguyễn Đức T6 Hữu DKết quả, cả 02 đều dương tính với chất ma tuý, loại: Methamphetamine;
  • - Ngày 06/01/2025, Công an huyện P tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể của Trần CNguyễn Đức T Hữu DHồ Xuân T Xuân T Văn L Xuân B. Kết quả xét nghiệm đều dương tính với chất ma tuý, loại: Methamphetamine.
  • - Ngày 10/01/2025, Công an thị trấn C hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể của Phạm Trần M1 T6Kết quả, dương tính với chất ma tuý, loại: Methamphetamine;

Vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát tạm giữ, bảo quản:

  • - 01 bì thư có kích thước (28 x 15)cm, dán kín niêm phong: dấu tròn Phòng KTHS Công an tỉnh Bchữ ký của: N1 T7Trên bì thư ghi in dòng chữ: “Công an tỉnh Bsố 14/KL-KLHS”; “H1 lại đối tượng giám định: Mẫu A1, A2, A3, A4, A5, A6 đã phân tích hết trong quá trình giám định; 01 túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3A 104139; 01 túi niêm phong ký hiệu PS3A, mã số PS3A 104141;01 vỏ nilon có kích thước (1,5 x 01)cm; 01 vỏ nilon có kích thước (01 x 0,5)cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, kích thước (3 x 0,5)cm; 02 vỏ nilon có cùng kích thước (02 x 01)cm; 01 nỏ thủy tinh có kích thước (13 x 4,5)cm và 0,0382 gam mẫu A4 còn lại sau giám định”;
  • - 01 bì thư có kích thước (19 x 13) cm, dán kín niêm phong: dấu tròn

7

Phòng KTHS Công an tỉnh Bchữ ký của: Lê Tuấn T8Nguyễn T7 T9Lê Tuấn T8Trên bì thư ghi in dòng chữ: “Công an tỉnh Bsố 23/KL-KLHS”; “H1 lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định”;

  • - 01 bình sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa, kích thước (11,5 x 05) cm, có nắp màu xanh, trên nắp có đục 02 lỗ tròn: 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, kích thước (19 x 0,5)cm;
  • - 01 bình sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa, chưa qua sử dụng, gồm: 01 chai nhựa nắp màu trắng, kích thước (14 x 5)cm, trên nắp có đục 02 lỗ tròn: 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, kích thước (21 x 0,5)cm và 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh, kích thước (12 x 4,5)cm;
  • - 01 cây kéo bằng kim loại, kích thước (16,5 x 5)cm;
  • - 01 cây kéo bằng kim loại, kích thước (8,5 x 4)cm;
  • - 01 bật lửa màu xanh, gắn tim lửa, kích thước (8,5 x 2)cm;
  • - 01 bình ga mi ni màu xanh, hiệu IKURA, kích thước (19 x 7)cm, gắn 01 đầu khò kích thước (18,5 x 6)cm;
  • - 01 nắp chai nước màu đỏ, kích thước (03 x 01)cm, được đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen, kích thước (5,5 x 0,5)cm;

(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/4/2025 có trong hồ sơ vụ án, đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát tạm giữ, bảo quản).

Tại bản cáo trạng số: 16/CT-VKSPC, ngày 01/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Trần C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự (BLHS); truy tố các bị cáo N2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định trong phần thủ tục tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Trần CNguyễn Đức T Hữu Dvà H T4về tội danh, khung hình phạt nêu trên, không có thay đổi, bổ sung gì thêm.

Về tội danh: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Trần Cphạm T8: “Mua bán trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Nguyễn Đức T6 Hữu Dvà Hồ Xuân T4phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự:

  • - Đối với bị cáo Trần C: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 38, 58 của BLHS - năm 2015, xử phạt bị cáo Trần C từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 08/01/2025);
  • - Đối với bị cáo Nguyễn Đức T1: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 56, 58 của BLHS

8

- năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 19/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, buộc bị cáo phải hành hình phạt chung của 02 bản án. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: 08/01/2025;

  • - Đối với các bị cáo Nguyễn Hữu DHồ X T4: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58, 101 của BLHS - 2015; khoản 1 Điều 119, điểm a khoản 1 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên – 2024, xử phạt các bị cáo Nguyễn Hữu DHồ X T4từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Hữu D6 T10từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: 08/01/2025; đối với Hồ Xuân T4tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 đến ngày 26/4/2025 là 03 tháng 17 ngày.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS - 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) - 2015.

  • * Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/4/2025 đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát tạm giữ, bảo quản.
  • * Tịch thu của Trần C8 tiền mua bán, thu lợi bất chính 1.900.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước;

Trong phần phát biểu ý kiến bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Hữu D, Hồ Xuân T12, các Trợ giúp viên pháp lý Phan Thị Ngọc HNguyễn Ngọc Quốc L2 thống nhất toàn bộ nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát đã truy tố các bị cáo; thống nhất toàn bộ nội dung luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà. Người bào chữa cho bị cáo Dđề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, xử phạt bị cáo với mức án từ 02 năm 6 tháng tù đến 03 năm tù. Người bào chữa cho bị cáo T4đề nghị HĐXX xem xét áp dụng Điều 65 của BLHS xử phạt bị cáo với mức án từ 02 năm 6 tháng tù đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo an tâm cải tạo, sớm quay về với gia đình.

Trong phần tự bào chữa, các bị cáo Trần CNguyễn Đ2 T1Nguyễn Hữu DHồ Xuân T4thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng, các bị cáo thể hiện sự ăn năn, hối lỗi và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về mặt thủ tục tố tụng:

9

[1.1] Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của BLHS và BLTTHS - 2015. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tham gia tố tụng. Do đó, HĐXX có đủ căn cứ để xác định: ở các giai đoạn tố tụng này, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Tại phiên toà, những người làm chứng N Xuân T5vắng mặt do đang phải chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G. Trong giai đoạn điều tra, những người này đã có lời khai về những tình tiết liên quan đến vụ án nên việc vắng mặt của của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Xét nội dung của vụ án và hành vi của các bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma tuý: Tại phiên toà, bị cáo C9 nhận: Để thoả mãn nhu cầu sử dụng ma tuý và chia nhỏ ma tuý để bán lại cho người khác kiếm lời, ngày 30/12/2024 và ngày 02/01/2025, C đã liên lạc bằng điện thoại với một người tên Klở huyện P, tỉnh Bình Định để mua ma tuý, loại Methamphetamine (gọi tắt là ma túy đá). Cả 02 lần mua bán ma tuý đều diễn ra tại điểm hẹn khu vực trước Trường tiểu học M2, huyện P số lượng ma tuý mua được lần lượt là 1.000.000 đồng và 750.000 đồng. Sau khi mua được lượng ma túy nêu trên, C1 về chỗ ở thuộc thôn C, xã C, huyện P ra để vừa bán, vừa sử dụng. Từ khoảng 11 giờ 08 phút ngày 02/01/2025 đến khoảng 21 giờ ngày 04/01/2025, C2 03 lần thực hiện hành vi bán ma tuý đá và dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Đ1 T1Nguyễn Hữu Dvà Nguyễn Văn L1để các đối tượng này tổ chức sử dụng trái phép với tổng số tiền mua bán là 1.300.000 đồng. Ngoài ra, C10 bán cho Phạm Trần M1 T6300.000 đồng và bán cho Hồ Xuân B2300.000 đồng để các đối tượng này sử dụng riêng cá nhân. Đêm ngày 05/01/2025 tổ tuần tra, kiểm soát an ninh trật tự Công an xã C Tlcó biểu hiện nghi vấn nên tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của N quả, cả 02 đều dương tính với ma tuý, loại: Methamphetamine. Từ kết xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của T1và Dhành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Trần C11 phát hiện. Tại phiên toà, bị cáo C9 nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án là Nguyễn Đức T1Nguyễn H2 DHồ X T4lời khai của Phạm trần M1 T6Hồ Xuân B2phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được như các biên bản khám xét, thu giữ, niêm phong, mở niêm phong vật chứng; Kết luận giám định số 14 và số 23/KL-KTHS ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Phòng K2Công an tỉnh B và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận, hành vi của Trần C2 mô tả ở phần nội dung trên cấu thành

10

tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 251 của BLHS với các tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của BLHS.

[2.2] Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý:

[2.2.1] Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Đức T1Nguyễn H2 DHồ X T4khai nhận: Sau khi mua được ma tuý đá từ bị cáo C12 giá 500.000 đồng (gọi tắt là 1 cái 5) kèm theo dụng cụ sử dụng, trưa ngày 02/01/2025 N3 liên lạc với Nguyễn Hữu Dvà Hồ X1 T4bằng điện thoại di động rủ rê DT4đến chỗ ở của mình để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý. Trong lúc chờ đợi Dvà T4đến, T1lắp nỏ thuỷ tinh, ống hút và chai nước tạo thành bộ dụng cụ sử dụng hoàn chỉnh, đổ lượng ma tuý mua được vào dụng cụ và sử dụng trước. Sau đó DT4đến chỗ ở của T1lần lượt sử dụng rồi ra về.

[2.2.2] Ngoài việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại chỗ ở của Tlvào trưa ngày 02/01/2025, khoảng 20 giờ ngày 04/01/2025, Nguyễn Hữu DHồ X T4Nguyễn Văn L1đến chỗ ở của N4. Thấy Llchơi game trúng thưởng 700.000 đồng nên D7 L1góp tiền mua ma tuý đá đem đến vọng gác cứu hộ tại bờ biển thuộc khu phố C, thị trấn C, huyện P sử dụng chung và được cả nhóm đồng ý. L1 đồng ý góp 400.000 đồng, D8 góp 100.000 đồng. Nguyễn Hữu D9 lạc với Có mua 500.000 đồng ma tuý đá (01 cái 5). Cđồng ý bán nên gửi mã QR tài khoản của C13 L1chuyển khoản 500.000 đồng rồi hẹn Dđến cầu C, xã C giao nhận ma tuý. Sau khi mua được 1 cái 5 ma túy đá của CDđiều khiển xe mô tô chở T4 đến điểm hẹn nhận ma tuý rồi đem đến vọng gác cứu hộ tại bờ biển khu phố C cả nhóm cùng nhau sử dụng.

[2.2.3] Tại phiên toà, lời khai nhận tội của các bị cáo T9, T4phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của Nguyễn Xuân T5Nguyễn V L1phù hợp với vật chứng thu giữ được tại chỗ ở của bị cáo Tlvà tại vọng gác bờ biển thuộc khu phố C, thị trấn C được trưng cầu giám định; phù hợp với kết luận giám định của Phòng K2Công an tỉnh Bvà các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Do vậy, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: hành vi của các bị cáo Nguyễn Đức T6 Hữu DHồ Xuân T4 cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 255 của BLHS với các tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi”, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS – 2015.

[3] Từ những nhận định trên, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận, Cáo trạng số 16/CT-VKSPC, ngày 01/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Trần Cvề T10 “Mua bán trái phép chất ma tuý”; truy tố các bị cáo N2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với các tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 251, khoản 2 Điều 255 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi các bị cáo đã

11

thực hiện, HĐXX thấy rằng: Các chất ma tuý nói chung và M1 nói riêng là chất ma túy gây nghiện, có tác hại lớn đến sức khoẻ, tính mạng của chính người sử dụng, làm suy thoái giống nòi, có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội nên Nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân mua bán, tàng trữ, vận chuyển hoặc tổ chức sử dụng trái phép. Tuy nhiên, vì động cơ hám lời, thoã mãn nhu cầu cá nhân và thái độ xem thường pháp luật, bị cáo C2 mua ma tuý đá về, chia nhỏ ra nhiều phần để vừa bán, vừa sử dụng. Trong khoảng thời gian ngắn, bị cáo đã 05 lần bán ma tuý cho các bị cáo khác trong cùng vụ án và các đối tượng Phạm Trần M1 T6Hồ Xuân B2. Sau khi mua được ma tuý của CNguyễn Đức T Hữu Dvà H T4đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy; gây mất trật tự trị an ở địa phương trong lĩnh vực phòng ngừa tệ nạn xã hội nên cần thiết phải áp dụng chế tài hình sự thật nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung đối với người khác.

[5] Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của các bị cáo T1DT4có tính chất đồng phạm quy định tại Điều 17 của BLHS. Tuy nhiên, tính chất đồng phạm giản đơn. Xét vai trò đồng phạm trong vụ án, HĐXX thấy rằng: Bị cáo Tllà người đã thành niên, trước khi thực hiện hành vi phạm tội vào trưa ngày 02/01/2025, T1là người cung cấp ma tuý, chuẩn bị sẵn dụng cụ sử dụng và là người khởi xướng, rủ rê DT4đến chỗ ở của T1cùng nhau đưa chất ma tuý vào cơ thể của người khác trái phép. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý đêm ngày 04/01/2025, bị cáo D10 người khởi xướng, rủ rê, được bị cáo T4và các đối tượng Nguyễn Xuân T11 Văn L1thống nhất về mặt ý chí, cùng thực hiện. Do vậy, xét bị cáo T1 giữ vai trò cao hơn các bị cáo DT4nên phải chịu trách nhiệm chế tài hình sự cao hơn khi cân nhắc, cá thể hoá hình phạt.

[6] Xét đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng:

[6.1] Mặc dù các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của BLHS, nhưng các bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng định khung hình phạt. Bị cáo T1được xem là không có tiền án, tiền sự, nhưng là người có đặc điểm nhân thân xấu. Trong thời gian bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, chờ truy tố, xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

[6.2] Tuy nhiên, HĐXX cũng thấy rằng, quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đều thể hiện thái độ hợp tác, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình đã thực hiện nên cả 04 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Mặt khác, hành vi phạm tội của các bị cáo không thuộc trường hợp bắt giữ người phạm tội quả tang mà thông qua việc tuần tra, kiểm soát an ninh trật tự, nhận thấy Tlcó biểu hiện nghi vấn nên Công an thị trấn Ctiến hành xét nghiệm chất

12

ma tuý trong cơ thể của T1và D11 đều cho kết quả dương tính với ma tuý đá. Từ đây, các bị cáo T1DT4tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra, tự nguyện khai báo về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, tích cực cung cấp thông tin để Cơ quan điều tra làm rõ hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Trần CDo đó, các bị cáo T1DT4được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của BLHS. Xét thấy các bị cáo D, T4có đặc điểm nhân thân tốt, nhưng do thiếu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã hội; động cơ phạm tội mang tính chất tò mò, a dua, đua đòi để tìm cảm giác lạ; nhận thức chưa đầy đủ về tác hại của ma tuý. Bị cáo T4hiện nay đang mắc bệnh tăng huyết áp và thoái hoá khớp gối, hạn chế khả năng vận động. Từ những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, HĐXX cân nhắc, xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của BLHS, quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất quy định tại khoản 2 Điều 255 của BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Hữu DHồ X T4; đồng thời áp dụng chính sách pháp luật quy định chung về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại các mục 4, 5 chương XII của BLHS và khoản 1 Điều 119, điểm a khoản 1 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên – 2024 để quyết định hình phạt, nhằm mục đích giáo dục cho các bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[7] Trong vụ án này còn có đối tượng tên “K1” đã có hành vi 02 lần bán ma túy cho bị cáo C tại khu vực trước cổng Trường tiểu học M2, huyện P, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên không có căn cứ để xử lý về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý.

[8] Đối với Nguyễn Văn L1, Nguyễn Xuân T4 là những đối tượng đã có hành vi góp tiền mua ma túy và chuẩn bị dụng cụ, phương tiện để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Nguyễn Hữu Dvà Hồ Xuân T12. Xét hành vi của L1T5đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi tội phạm, L1và T5đều là người dưới 16 tuổi. Theo quy định tại Điều 12 BLHS, L1và T5chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội này nên đã bị Cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị và đã bị Toà án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường giáo dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Xử lý vật chứng của vụ án: HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xử lý các vật chứng của vụ án như sau:

[9.1] Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ các vật chứng đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát tạm giữ, bảo quản theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/4/2025 có trong hồ sơ vụ án.

[9.2] Tịch thu của bị cáo Trần C14 đồng sung Ngân sách Nhà nước (trong đó: 1.750.000 đồng là số tiền sử dụng vào mục đích phạm tội và 150.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý).

[10] Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố

13

tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14, buộc các bị cáo Trần C, Nguyễn Đức T H chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Tại phiên toà, đề nghị của Kiểm sát viên về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX nên Toà án chấp nhận.

[12] Tại phiên toà, ý kiến bào chữa của các Trợ giúp viên pháp lý P2 bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Hữu D, Hồ Xuân T12 phù hợp một phần với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 58 của BLHS - năm 2015 (đối với bị cáo Trần C); các điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s, t khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 56, 58 của BLHS - năm 2015 (đối với bị cáo Nguyễn Đức T1); các điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; các Điều 17, 38, 58, khoản 1 Điều 101 của BLHS - năm 2015; khoản 1 Điều 119, điểm a khoản 1 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên – 2024 (đối với các bị cáo Nguyễn Hữu DHồ X T4);

- Căn cứ vào Điều 106, Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14.

Tuyên xử:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Cphạm T8: “Mua bán trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Nguyễn Đức T1, Nguyễn Hữu DHồ X T4phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Trần C15 (tám) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: 08/01/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.

2.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T13 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt tại Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 19/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, mức hình phạt 15 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của BLHS; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là: 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: 08/01/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.

14

2.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D12 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: 08/01/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.

2.4. Xử phạt bị cáo Hồ Xuân T14 (ba) năm tù; được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 đến ngày 26/4/2025 là 03 (ba) tháng 18 (mười tám) ngày nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thời gian còn lại là: 02 (hai) năm 08 (tám) tháng 12 (mười hai) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng:

  • - 01 bì thư có kích thước (28 x 15)cm, dán kín niêm phong: dấu tròn Phòng KTHS Công an tỉnh Bchữ ký của: N1 T7Trên bì thư ghi in dòng chữ: “Công an tỉnh Bsố 14/KL-KLHS”; “H1 lại đối tượng giám định: Mẫu A1, A2, A3, A4, A5, A6 đã phân tích hết trong quá trình giám định; 01 túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3A 104139; 01 túi niêm phong ký hiệu PS3A, mã số PS3A 104141;01 vỏ nilon có kích thước (1,5 x 01)cm; 01 vỏ nilon có kích thước (01 x 0,5)cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, kích thước (3 x 0,5)cm; 02 vỏ nilon có cùng kích thước (02 x 01)cm; 01 nỏ thủy tinh có kích thước (13 x 4,5)cm và 0,0382 gam mẫu A4 còn lại sau giám định”;
  • - 01 bì thư có kích thước (19 x 13) cm, dán kín niêm phong: dấu tròn Phòng KTHS Công an tỉnh Bchữ ký của: Lê Tuấn T8Nguyễn T7 T9Lê Tuấn T8Trên bì thư ghi in dòng chữ: “Công an tỉnh Bsố 23/KL-KLHS”; “H1 lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định”;
  • - 01 bình sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa, kích thước (11,5 x 05) cm, có nắp màu xanh, trên nắp có đục 02 lỗ tròn: 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, kích thước (19 x 0,5)cm;
  • - 01 bình sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa, chưa qua sử dụng, gồm: 01 chai nhựa nắp màu trắng, kích thước (14 x 5)cm, trên nắp có đục 02 lỗ tròn: 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, kích thước (21 x 0,5)cm và 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh, kích thước (12 x 4,5)cm;
  • - 01 cây kéo bằng kim loại, kích thước (16,5 x 5)cm;
  • - 01 cây kéo bằng kim loại, kích thước (8,5 x 4)cm;
  • - 01 bật lửa màu xanh, gắn tim lửa, kích thước (8,5 x 2)cm;
  • - 01 bình ga mi ni màu xanh, hiệu IKURA, kích thước (19 x 7)cm, gắn 01 đầu khò kích thước (18,5 x 6)cm;
  • - 01 nắp chai nước màu đỏ, kích thước (03 x 01)cm, được đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen, kích thước (5,5 x 0,5)cm;

(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/4/2025 có trong hồ sơ vụ án, đã chuyển giao cho Chi cục Thi

15

hành án dân sự huyện Phù Cát tạm giữ, bảo quản).

3.2. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước:

Buộc bị cáo Trần C16 nộp 1.900.000 đồng (trong đó: 1.750.000 đồng là số tiền sử dụng vào mục đích phạm tội và 150.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý) để sung Ngân sách Nhà nước.

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần CNguyễn Đức T1, Nguyễn Hữu Dvà Hồ X1 T4mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của các bị cáo chưa thành niên có quyền kháng cáo bản án.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - Văn phòng CQCSĐT-
  • Công an tỉnh Bình Định (02b);
  • - VKSND huyện Phù Cát (02b);
  • - Chi cục THADS H.Phù Cát;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu THA phạt tù;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đình Quyến

16

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – GIA LAI

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2025/TB-TA

Gia Lai, ngày 07 tháng 07 năm 2025

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy Bản án Hình sự sơ thẩm số: 29/2025/HS-ST ngày 17/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định (nay là Toà án nhân dân khu vực 3 – Gia Lai) có lỗi do nhầm lẫn trong khâu đánh máy cần được sửa chữa như sau:

- Về nội dung: Tại dòng thứ 15,16 từ trên xuống trang số 02 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“Bị cáo bị khởi tố ngày 15/01/2025; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 cho đến tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phù Cát (nay là Phân trại tạm giam khu vực Phù Cát, thuộc Công an tỉnh Bình Định), (có mặt).”

- Nay được sửa chữa như sau:

“Bị cáo bị khởi tố ngày 15/01/2025; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phù Cát (nay là Phân trại tạm giam khu vực Phù Cát, thuộc Công an tỉnh Bình Định), (có mặt).”

- Về nội dung: Tại dòng thứ 11 từ dưới lên trang số 14 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“2.1. Xử phạt bị cáo Trần Chinh 08 (tám) tù.”

- Nay được sửa chữa như sau:

“2.1. Xử phạt bị cáo Trần Chinh 08 (tám) năm tù”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND khu vực 3 – Gia Lai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đình Quyến

17

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự (criminal)

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Criminal)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần C và đồng phạm - Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger