Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIO LINH

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 29/2025/HS-ST

Ngày 17/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vĩnh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Lương Khoa;

Bà Trần Thị Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Gio Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, Toà án nhân dân huyện Gio Linh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2025/HS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Võ Văn K, sinh ngày 15/7/1971, tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: K, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đ và bà Nguyễn Thị H (đều đã chết); vợ: Nguyễn Thị V; con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất 1997; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 26/12/2005, bị Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính 500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong.

Ngày 18/9/2008, bị Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong.

Ngày 01/7/2018, bị Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt hành chính 7.000.000 đồng về hành vi điều khiển phương tiện vượt không đúng quy định gây tai nạn giao thông, đã chấp hành xong. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ tại Trại tạm giam Công tỉnh Quảng Trị từ ngày 24/4/2025 đến ngày 29/4/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An từ ngày 29/4/2025 đến nay; có mặt.

2. Nguyễn Duy B, sinh ngày 18/6/1993, tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Xóm B, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị H1; vợ: Dương Thị P; con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ tại Trại tạm giam Công tỉnh Quảng Trị từ ngày 24/4/2025 đến ngày 29/4/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An từ ngày 29/4/2025 đến nay; có mặt.

3. Đậu Thanh H2, sinh ngày 07/8/1994, tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn Q, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đậu Thanh N và bà Phạm Thị T1; vợ: Trịnh Thị Thúy H3; con: có 02 người, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ tại Trại tạm giam Công tỉnh Quảng Trị từ ngày 24/4/2025 đến ngày 29/4/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An từ ngày 29/4/2025 đến nay; có mặt.

4. Trần Văn T2, sinh ngày 23/02/1996, tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ1 và bà Phan Thị H4; vợ: Hà Thị Thu T3; con: có 01 người, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ tại Trại tạm giam Công tỉnh Quảng Trị từ ngày 24/4/2025 đến ngày 29/4/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An từ ngày 29/4/2025 đến nay; có mặt.

5. Trần Quốc T4, sinh ngày 25/9/1985, tại tỉnh Thái Bình; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: nhân viên Công ty TNHH T9; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công T5 (đã chết) và bà Bùi Thị N1; vợ: Hoàng Thị H5; con: có 02 người, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ tại Trại tạm giam Công tỉnh Quảng Trị từ ngày 24/4/2025 đến ngày 29/4/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình từ ngày 29/4/2025 đến nay; có mặt.

6. Trần Văn Q, sinh ngày 25/11/1992, tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Phan Thị C; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ tại Trại tạm giam Công tỉnh Quảng Trị từ ngày 24/4/2025 đến ngày 29/4/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An từ ngày 29/4/2025 đến nay; có mặt.

7. Hoàng Thị T6, sinh ngày 24/7/1974, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khu phố F, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: nhân viên Công ty Cổ phần C1; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn B1 và bà Hồ Thị K1 (đều đã chết); chồng: Lê Thanh B2 (đã chết); con: có 02 người, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị từ ngày 29/4/2025 đến nay; có mặt.

8. Trần Thị Mỹ H6, sinh ngày 27/8/1978, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khu phố B, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: nhân viên Công ty Cổ phần C1; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Trần Văn T7 (đã chết) và bà Lê Thị H7; chồng: Hoàng Nam H8; con: có 02 người, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị từ ngày 29/4/2025 đến nay; có mặt.

9. Nguyễn Thị Hồng T8, sinh ngày 12/9/1971, tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khu phố E, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: nhân viên Công ty Cổ phần C1; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng viên Đ3; con Nguyễn Quang Đ2 (đã chết) và bà Trần Thị L1; chồng: Nguyễn Văn H9 (đã chết); con: có 02 người, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị từ ngày 29/4/2025 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 24/4/2025, Võ Văn K, Đậu Thanh H2, Trần Văn T2, Trần Quốc T4, Nguyễn Duy B, Trần Văn Q, Trần Thị Mỹ H6, Hoàng Thị T6, Nguyễn Thị Hồng T8 đến hội trường tầng 1 của Công ty Cổ phần C1 thuộc Khu phố F, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trị để uống nước. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm rủ nhau lên tầng 3 của Công ty Cổ phần C1 để đánh bài (không nhớ rõ ai là người đầu tiên rủ). Lúc này, Hoàng Thị T6 đi mua 01 bộ bài Tú lơ khơ 52 lá ở một tạp hóa ở thị trấn C rồi cùng cả nhóm lên gian phòng ở tầng 3 Công ty Cổ phần C1 để đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức đánh bài cào tố, cách thức đánh như sau:

Trước khi chia bài, tất cả người chơi cược một số tiền giống nhau là 100.000 đồng gọi là tiền “Mậu”. Mỗi người sẽ được chia ba lá bài, kiểm tra bài rồi bắt đầu đặt cược, người có cái tức là người thắng ván trước thì được đặt cược đầu tiên, những người tham gia đánh bạc quy định giới hạn của việc đặt cược thêm tiền tối thiểu là 100.000 đồng, tối đa là 400.000 đồng, được đặt cược tối đa 02 vòng.

Khi đến lượt người chơi có thể “theo” tức là người chơi sẽ đặt cược theo số tiền mà người chơi trước đã đặt cược, “tố” tức là người chơi sẽ đặt cược thêm số tiền lớn hơn số tiền người chơi trước đặt cược, hoặc là “bỏ bài” tức là nếu cảm thấy bài không lớn thì người chơi bỏ bài và mất đi số tiền đặt cược và mậu trước đó.

Sau khi kết thúc 02 vòng đặt cược hoặc không có ai tố nữa thì những người chưa bỏ bài so bài với nhau. Thứ tự lá bài được tính từ thấp đến cao là 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A; thứ tự chất bài từ lớn đến nhỏ sẽ là rô, cơ, chuồn, bích; cụ thể các bộ bài quy định thắng thua từ cao xuống thấp như sau: Sam: là bộ ba lá bài giống nhau; ai là người có sam theo lá bài lớn nhất theo thứ tự quy định như trên thì sẽ thắng. Liêng: là bộ bài ba lá bài liên tục nhau, thứ tự cao thấp quy định theo lá bài như trên. Nếu như hai liêng bằng nhau thì sẽ xét tới chất bài của lá bài cao nhất, ai là người có liêng lớn nhất thì sẽ thắng. Ba cào: là bộ bài ba lá J, Q, K bất kỳ nhưng không phải là sam hoặc liêng, thứ tự cao thấp quy định theo lá bài như trên, nếu có ba cào với các lá bài giống nhau sẽ xét tới chất bài của lá bài cao nhất, ai là người có ba cào lớn nhất thì sẽ thắng. Điểm: số điểm được tính lúc ba lá bài không phải ba tình huống sam, liêng, ba cào thì sẽ tính bài bằng cách lấy tổng ba lá bài, cộng lại lấy phần điểm lẻ cao nhất là 9 điểm, thấp nhất là 0 điểm. Lá bài A được tính là 1 điểm; các lá bài 10, J, Q, K được tính là 0 điểm, các lá bài khác tính điểm theo số lá bài; ai là người cao điểm nhất sẽ thắng, nếu bằng nhau thì sẽ xét tới chất bài của lá cao nhất trong bộ ba lá, thứ tự lá bài và chất bài được quy định như trên. Trong những người còn lại thì bộ bài người nào lớn nhất thì sẽ thắng cược toàn bộ số tiền đã “mậu”, “theo” và “tố” trong ván đó. Quá trình đánh bạc những người tham gia có nộp tiền xâu với mục đích trả tiền mua bài và ăn uống sau khi đánh xong. Hình thức nộp xâu như sau: Mỗi ván nếu có người tố 100.000 đồng mà có người theo (bất kể số lượng người theo) phải trích ra 100.000 – 200.000 đồng bỏ xâu.

Các bị cáo đánh bạc liên tục đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác Phòng C2 Công an tỉnh Q phát hiện bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền trên chiếu bạc là 16.350.000 đồng, gồm: tiền đánh bạc hiện có giữa sòng là 5.900.000 đồng; 2.600.000 đồng tiền xâu; số tiền trong ví bỏ trước mặt của K, B, T2, Quyền lần lượt là 1.300.000 đồng, 4.500.000 đồng, 950.000 đồng, 1.100.000 đồng. Tất cả số tiền trên các bị cáo đều sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Quá trình điều tra, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi đánh bạc, cụ thể:

Võ Văn K sử dụng 1.900.000 đồng để đánh bạc. Thời điểm bắt quả tang K còn lại 1.300.000 đồng, ngoài ra K còn bỏ vào một số tiền giữa sòng dùng để đặt cược nhưng không rõ bao nhiêu. Nguyễn Duy B sử dụng 1.900.000 đồng để đánh bạc. Thời điểm bắt quả tang B còn 4.500.000 đồng, ngoài ra B bỏ 800.000 đồng vào chiếu bạc để đặt cược. Đậu Thanh H2 sử dụng 1.600.000 đồng để đánh bạc. Thời điểm bắt quả tang H2 không có tiền trong người, ngoài ra H2 còn bỏ vào một số tiền giữa sòng để đặt cược nhưng không rõ bao nhiêu. Trần Văn T2 sử dụng 1.850.000 đồng để đánh bạc. Thời điểm bắt quả tang T2 còn lại 950.000 đồng, ngoài ra T2 còn bỏ vào một số tiền giữa sòng để đặt cược nhưng không rõ bao nhiêu. Trần Quốc T4 sử dụng 2.800.000 đồng để đánh bạc. Thời điểm bắt quả tang T4 không còn tiền trong người, ngoài ra T4 còn bỏ 900.000 đồng giữa sòng để đặt cược. Hoàng Thị T6 sử dụng 1.600.000 đồng để đánh bạc. Thời điểm bắt quả tang T6 không còn tiền trong người, đang ngồi xem và chờ có người cho tiền để tiếp tục chơi. Trần Văn Q sử dụng 1.800.000 đồng để đánh bạc. Thời điểm bắt quả tang Q còn lại 1.100.000 đồng, ngoài ra Q còn bỏ vào một số tiền giữa sòng để đặt cược nhưng không rõ là bao nhiêu. Trần Thị Mỹ H6 sử dụng số tiền 1.800.000 đồng để đánh bạc. Thời điểm bắt quả tang H6 không còn tiền trong người. Toàn bộ số tiền còn lại H6 bỏ vào giữa sòng để đặt cược. Nguyễn Thị Hồng T8 sử dụng số tiền 1.100.000 đồng để đánh bạc. Thời điểm bắt quả tang T8 không còn tiền trong người. Toàn bộ số tiền còn lại T8 bỏ vào giữa sòng để đặt cược.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 16.350.000 đồng.

Cáo trạng số 32/CT-VKS-GL ngày 04 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh truy tố các bị cáo Võ Văn K, Đậu Thanh H2, Trần Văn T2, Trần Quốc T4, Nguyễn Duy B, Trần Văn Q, Trần Thị Mỹ H6, Hoàng Thị T6, Nguyễn Thị Hồng T8về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: các bị cáo Võ Văn K, Đậu Thanh H2, Trần Văn T2, Trần Quốc T4, Nguyễn Duy B, Trần Văn Q, Trần Thị Mỹ H6, Hoàng Thị T6, Nguyễn Thị Hồng T8 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn K từ 32.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; các bị cáo Nguyễn Duy B, Trần Văn T2, Đậu Thanh H2, Trần Thị Mỹ H6 mỗi bị cáo từ 27.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Trần Quốc T4, Trần Văn, Hoàng Thị T6 từ 23.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng; Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng T8 từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tú lơ khơ 52 lá; 01 cái chăn không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 16.350.000 đồng do Ngân hàng N2 phát hành.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của các bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để nhận định:

Ngày 24/4/2025, tại Công ty Cổ phần C1, các bị cáo Võ Văn K, Đậu Thanh H2, Trần Văn T2, Trần Quốc T4, Nguyễn Duy B, Trần Văn Q, Trần Thị Mỹ H6, Hoàng Thị T6, Nguyễn Thị Hồng T8 đã thực hiện hành vi đánh bạc thắng, thua bằng tiền Ngân hàng N2 trái pháp luật bằng hình thức đánh bài cào tố với tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 16.350.000 đồng.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh Trị truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Đánh giá nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Các bị cáo Võ Văn K, Trần Văn T2, Trần Quốc T4, Trần Văn Q, Nguyễn Duy B, Đậu Thanh H2, Hoàng Thị T6, Trần Thị Mỹ H6, Nguyễn Thị Hồng T8 có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức, hiểu biết về pháp luật lẽ ra các bị cáo phải chăm chỉ lao động, xây dựng cuộc sống gia đình; tuy nhiên, do hám lợi bất chính, xem thường pháp luật nên cùng rủ nhau tham gia đánh bạc trái phép, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân.

Trong vụ án có đồng phạm nhưng ở mức độ giản đơn, hành vi phạm tội diễn ra tự phát nên không xác định được người khởi xướng, chủ mưu, Vai trò của các bị cáo trong vụ án do cùng rủ nhau nên tương đương nhau, sắp xếp theo tính chất về nhân thân, số tiền dùng đánh bạc, từ cao xuống thấp như sau:

Bị cáo Võ Văn K có nhân thân xấu từng bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần về tội đánh bạc, 01 lần về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, sử dụng số tiền 1.900.000 đồng nên cần xử phạt nghiêm hơn các bị cáo khác thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo. Các bị cáo khác đều có nhân thân tốt, sắp xếp theo số tiền sử dụng để đánh bạc lần lượt là: bị cáo Trần Quốc T4 sử dụng số tiền 2.800.000 đồng, Nguyễn Duy B sử dụng số tiền 1.900.000 đồng, Trần Văn T2 sử dụng số tiền 1.850.000 đồng, Trần Văn Q sử dụng số tiền 1.800.000 đồng, Trần Thị Mỹ H6 sử dụng số tiền 1.800.000 đồng, Đậu Thanh H2 sử dụng số tiền 1.600.000 đồng, Hoàng Thị T6 sử dụng số tiền 1.600.000 đồng, Nguyễn Thị Hồng T8 sử dụng số tiền 1.100.000 đồng để đánh bạc.

Vì vậy, cần xem xét nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để cá thể hoá trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tất cả các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. bị cáo Nguyễn Thị Hồng T8 trong quá trình công tác được Bộ G tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giao thông vận tải, được tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở nên được áp dụng thêm tình tiết người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong công tác được quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Võ Văn K có bố được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, mẹ được chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến; bị cáo Nguyễn Thị Hồng T8 có bố, mẹ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng H10, Huy chương; bị cáo Hoàng Thị T6 có bố, mẹ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng H10, Huy chương. Các bị cáo Trần Quốc T4, Trần Văn Q, Nguyễn Thị Hồng T8, Hoàng Thị T6, hiện là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn cản khó khăn, bị cáo Trần Thị Mỹ H6 có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho các bị cáo Võ Văn K, Trần Quốc T4, Trần Văn Q, Nguyễn Thị Hồng T8, Hoàng Thị T6Thị Mỹ H6 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt: Các bị cáo phạm tội nhằm mục đích tư lợi, số tiền mỗi các bị cáo sử dụng để đánh bạc không quá lớn nên cần xem xét, áp dụng quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự để áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính trên mức khởi điểm đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, qua đó thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng T8 có 03 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 nên được cân nhắc áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

[5]. Về hình phạt bổ sung: do hình phạt chính được xem xét, áp dụng đối với các bị cáo là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra tạm giữ 01 bộ bài Tú lơ khơ 52 lá; 01 cái chăn của Võ Văn K là công cụ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 16.350.000 đồng do Ngân hàng N2 phát hành là số tiền trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với các điện thoại di động (ĐTDĐ) Iphone 16 Promax, gắn thẻ sim 0966677239 và S A52 gắn thẻ sim 0985704468 của bị cáo K; Iphone XS max gắn thẻ sim 0987755703 của bị cáo B; S A52 gắn thẻ sim 0334234454 của bị cáo T2; Xiaomi Note 14 Pro gắn thẻ sim 0979864492 của bị cáo Q; Iphone 11 gắn thẻ sim 0966189695 của bị cáo H2; OPPO F11 gắn thẻ sim 0982317333 của bị cáo T8; Samsung Galaxy A70 gắn thẻ sim 0918277678 của bị cáo T6; X 12 gắn thẻ sim 0979222588 của bị cáo T4; Iphone 13 gắn thẻ sim 0983445326 của bị cáo H6. Quá trình điều tra xác định các ĐTDĐ trên không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho các bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[8] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Các bị cáo được xem xét xử phạt tiền nên không cần tiếp tục áp dụng Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự hủy bỏ các Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Võ Văn K, Trần Văn T2, Trần Quốc T4, Trần Văn Q, Nguyễn Duy B, Đậu Thanh H2, Hoàng Thị T6, Trần Thị Mỹ H6, Nguyễn Thị Hồng T8 phạm tội “Đánh bạc".

1. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn K 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng;

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Duy B 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng;

Bị cáo Trần Văn T2 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng;

Bị cáo Đậu Thanh H2 22.000.000 (Hai mươi hai triệu) đồng;

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Bị cáo Trần Thị Mỹ H6 22.000.0000 (Hai mươi hai triệu) đồng;

Bị cáo Trần Quốc T4 22.000.000 (Hai mươi triệu) đồng;

Bị cáo Trần Văn Q 22.000.000 (Hai mươi triệu) đồng;

Bị cáo Hoàng Thị T6 20.000.0000 (Hai mươi triệu) đồng;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng T8 15.000.0000 (Mười lăm triệu) đồng.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài Tú lơ khơ 52 lá; 01 cái chăn làm bằng vải có hoa văn sọc trắng đỏ xám, kích thước 1,6m x 2m. (Hiện các vật chứng trên có tại Cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/06/2025, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an và Cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị).

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 16.350.000 đồng do Ngân hàng N2 phát hành. Hiện đang tạm gửi vào tài khoản số 3949.0.1047874.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị mở tại Phòng G1 Kho bạc nhà nước khu vực XI

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: các bị cáo Võ Văn K, Trần Văn T2, Trần Quốc T4, Trần Văn Q, Nguyễn Duy B, Đậu Thanh H2, Hoàng Thị T6, Trần Thị Mỹ H6, Nguyễn Thị Hồng T8 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/6/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - CQ CSĐT Công an tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Gio Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Gio Linh;
  • - Các bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu HSVA, TỔ HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Ngọc Vĩnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger