|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày 09-6-2025 |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Thanh Giản
Ông Đặng Kim Dũng
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hưng - Thư ký Toà án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đình Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Trà G, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2004, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Vũ Thị C; chưa có chồng, có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2025; tiền án, tiền sự, nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15/QĐ-XPHC ngày 18 tháng 3 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng xử phạt 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”( bị cáo chưa thực hiện việc nộp phạt); được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14 tháng 3 năm 2025; có mặt.
- Bị hại: Chị Phạm Thị Thảo Q, sinh năm 2003; nơi cư trú: L, N, K, Hải Phòng; có mặt.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Thu T1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 11/11/2024, Nguyễn Trà G đến quán T2, địa chỉ: Số D Đường M, P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng để chơi vì G có quen với chị chủ quán là Nguyễn Thị Hồng V. Khoảng 13 giờ cùng ngày chị Phạm Thị Thảo Q là nhân viên của quán đến quán làm việc. Quá trình làm việc, chị Q có để 01 điện thoại Iphone 13 ProMax, màu đen trên mặt bàn uống nước rồi đi làm việc, G quan sát và nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại của chị Q để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, nhân cơ hội chị Q có việc đi ra ngoài quán, điện thoại vẫn để trên bàn, G đã lấy chiếc điện thoại của chị Q cho vào túi quần bên trái rồi bắt xe ôm đi đến khu vực nội thành Hải Phòng. Do trước đó G biết mật khẩu điện thoại của chị Q nên mở được điện thoại và tìm trong mục “ghi chú” thấy mật khẩu tài khoản ngân hàng M của chị Q, G tiếp tục đăng nhập và chuyển số tiền 500.000 đồng vào tài khoản số [...] tại Ngân hàng V1 của chị Nguyễn Thị Thu T1 là chị gái ruột của bị cáo. Sau khi chuyển tiền xong, G gọi điện cho chị T1 bảo chuyển lại số tiền 500.000 đồng vào tài khoản của G qua ứng dụng momo. Sau đó G cầm chiếc điện thoại của chị Q đến bán cho một cửa hàng điện thoại trong khu vực nội thành Hải Phòng (G không nhớ cụ thể cửa hàng) với giá 1.700.000 đồng, số tiền này G đã chi tiêu cá nhân hết. Chị Q phát hiện bị mất điện thoại nên đã trình báo Cơ quan Công an.
Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 17/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận D, kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax, màu đen, dung lượng 128GB đã qua sử dụng có giá 13.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trà G đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án: Chiếc điện thoại G chiếm đoạt được của chị Q và đã bán cho một cửa hàng điện thoại trong khu vực nội thành Hải Phòng do không xác định được địa điểm, danh tính, địa chỉ, lai lịch của người mua điện thoại nên Cơ quan cảnh sát điều tra không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, chị Q yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 16.000.000 đồng, trị giá chiếc điện thoại chị Q đã mua là 15.500.000 đồng và số tiền 500.000 đồng của chị Q trong tài khoản do bị cáo chiếm đoạt.
Tại Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 19/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Trà G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến quá trình thực hiện hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, đồng thời tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt. Bị hại về cơ bản xin giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Cơ quan điều tra. Về phần dân sự,
yêu cầu bồi thường tổng số tiền là 13.500.000 đồng, trong đó 13.000.000 đồng giá trị chiếc điện thoại và 500.000 đồng là tiền trong tài khoản bị chiếm đoạt. Về hình sự, chị Q đề nghị Tòa án xét xử nghiêm minh đối với bị cáo để đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm n, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Trà G phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, đề nghị không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về phần dân sự, đề nghị áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 589 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Q tổng số tiền là 13.500.000 đồng. Về xử lý vật chứng nên đề nghị không xem xét; đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của các bị cáo: Không tranh luận về tội danh, căn cứ pháp luật áp dụng. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận D, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận D thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt tại phiên tòa của người làm chứng nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra, những lời khai này đã được cơ quan điều tra thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xét thấy sự vắng mặt của người làm chứng không làm trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh:
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận như sau: Vào khoảng 15 giờ 20 phút ngày 11/11/2024, tại quán T2, địa chỉ: Số D Đường M,
tổ dân phố P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Trà G đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt của chị Phạm Thị Thảo Q 01 điện thoại Iphone 13 ProMax, màu đen trị giá 13.000.000 đồng và 500.00 đồng trong tài khoản của chị Q. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Trà G chiếm đoạt của chị Phạm Thị Thảo Q là 13.500.000 đồng. Do vậy hành vi của bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 19/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi đang mang thai nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Trà G là người có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị xử phạt 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15/QĐ-XPHC ngày 18/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Bị cáo chưa thực hiện việc nộp phạt. Tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý hành chính, bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi và theo quy định của pháp luật thì không xác định để tính tiền sự cho bị cáo. Tuy nhiên đó vẫn là cơ sở để khẳng định bị cáo đã từng nhận được sự khoan hồng trong chính sách, pháp luật của Nhà nước nhưng vẫn không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức pháp luật của bị cáo còn rất nhiều hạn chế nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Hơn nữa trong vụ án này, bị cáo hoàn toàn chưa thực hiện việc bồi thường cho bị hại, làm cho bị hại gặp khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt.
[7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, xử bị cáo trong mức của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và như mức đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời vừa thể hiện tính nghiêm minh, vừa thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng phạt tiền hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Không thu hồi được nên không xem xét.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Thị Thảo Q yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 13.500.000 đồng là giá trị chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax và số tiền bị chiếm đoạt trong tài khoản của chị Q là có căn cứ. Bị cáo cũng đồng ý với yêu cầu này của chị Q. Do vậy căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Trà G phải bồi thường cho chị Phạm Thị Thảo Q tổng số tiền 13.500.000 đồng.
[11] Chị Nguyễn Thị Thu T1 không biết việc bị cáo G chiếm đoạt tiền của chị Q để gửi vào số tài khoản của chị T1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D không xử lý đối với chị T1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
[12] Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ của người đã mua điện thoại của bị cáo G nên Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.
[13] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo các điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng, tội danh, mức hình phạt:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm n, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Trà G phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 589 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Nguyễn Trà G phải bồi thường cho chị Phạm Thị Thảo Q tổng số tiền là 13.500.000 (mười ba triệu, năm trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền trên mà người phải thi hành chưa thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành theo mức lãi
suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về vật chứng: Không thu hồi được nên không xem xét.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Trà G phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 675.000 (sáu trăm bẩy mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nguyễn Thị Duyến |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 09/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 2025.06.09. HSST. BA29 Nguyễn Trà G - Trộm cắp tài sản
