|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày 06 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tâm, ông Nguyễn Lê Kiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Kiều Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Quan Thị N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/11/1990, tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện C (nay là huyện L), tỉnh Tuyên Quang.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; họ tên cha: Không xác định; con bà Quan Thị H, sinh năm 1965; có chồng: Niện Khun (tiếng Trung Quốc), sinh năm 1989; con: Có 02 con (lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020 (ở Trung Quốc).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/11/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Quan Thị N là ông Nguyễn Văn T, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt;
- Người bị hại: Chị Ma Thị T1, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa năm 2007, Quan Thị N, cư trú tại thôn B, xã P, huyện C (nay là huyện L), tỉnh Tuyên Quang sang Trung Quốc làm gái mại dâm, chủ là người phụ nữ tên H1 (là người Việt Nam, lấy chồng người Trung Quốc) quản lý, tại khu vực H, Trung Quốc (Theo Nhạc khai N bị một người phụ nữ không xác định được tên, tuổi, địa chỉ bán sang Trung Quốc làm gái mại dâm). Đến khoảng tháng 8/2009, do muốn về Việt Nam, không làm gái mại dâm, N xin H1 cho về Việt Nam, H1 bảo N muốn về thì phải tìm được một người phụ nữ Việt Nam khác sang thay thế Nhạc bán dâm, nếu N không đồng ý, trốn ở lại Việt Nam thì H1 sẽ tung ảnh N bán dâm để N mất danh dự, N đồng ý. H1 đưa cho N khoảng 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng (tiền Việt Nam) để Nhạc đi về Việt Nam. Sau đó, N theo đường tiểu ngạch về nhà ở xã P. Ngày 22/8/2009 N đến nhà Ma Thị T1, ở thôn B, xã P (là bạn học cùng N) rủ T1 đi Lào Cai làm các công việc như rửa bát, bán quần áo với mức lương cao, T1 đồng ý. Ngày 23/8/2009, N cùng T1 đi xe ô tô khách từ xã P đến thành phố L (quá trình đi có chuyển xe 02 lần, không xác định được địa điểm chuyển xe). Sau đó N đưa T1 sang Trung Quốc qua sông bằng thuyền (không làm thủ tục xuất, nhập cảnh theo quy định). S đến Trung Quốc, N liên lạc bằng điện thoại với H1 (không xác định được số điện thoại) để H1 cho người đến đón. Khi N và T1 đến quán của H1, N nói cho T1 biết việc N đưa T1 sang Trung Quốc để bán dâm, T1 không đồng ý thì bị Hà nhốt ở trong phòng. Khoảng 03 ngày sau, H1 bán Tươi cho một người đàn ông Trung Quốc bị liệt hai chân, tên là D làm vợ. Sau khi đến nhà người đàn ông tên D ở được 02 ngày thì T1 sử dụng điện thoại di động của D gọi cho Phạm Văn Đ (Em rể T1), trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang để nhờ Đ báo lại cho gia đình về việc bị N lừa bán sang Trung Quốc; anh Đ đã báo cho ông Ma Công S1 và bà Ma Thị M (là cha mẹ T1) biết sự việc.
Sau đó, bà M đến Công an xã P, anh Đ đến Phòng C Công an tỉnh T tố giác việc N lừa bán Tươi sang Trung Quốc. Đến năm 2010 Tươi được nhà chồng và chồng cho về Việt Nam thăm gia đình khoảng 15 ngày, rồi quay lại Trung Quốc sống cùng gia đình D.
Đối với Quan Thị N, sau khi thực hiện hành vi phạm tội N tiếp tục ở lại Trung Quốc dưới sự quản lý của H1 làm gái bán dâm, đến khoảng năm 2014 thì bỏ trốn và đi làm thuê tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Đến năm 2016 (không xác định được thời gian cụ thể), N quen và sinh sống như vợ chồng với người đàn ông Trung Quốc tên Niện K (tiếng Trung Quốc), tại thôn T, thị trấn T, thành phố D, Châu Hồng H1, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc và có 02 con chung. Đến ngày 19/11/2024, N bị bắt theo Quyết định truy nã số 08 ngày 27/10/2009 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, tại khu vực Cửa khẩu quốc tế L.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Ma Thị T1 không yêu cầu Quan Thị N bồi thường chi phí đi lại và tiền thu nhập trong quá trình bị N lừa bán ở Trung Quốc.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Quan Thị N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị can phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 24/CT-VKSTQ-P2 ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Quan Thị N về tội “Mua bán người” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản cáo trạng đã truy tố.
Kết thúc phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Quan Thị N phạm tội “Mua bán người”.
- Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 150; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Quan Thị N từ 05 năm tù đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 19/11/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ma Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự nên đề nghị HĐXX không giải quyết.
Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, k, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Quan Thị N dưới mức khởi điểm của khung hình phạt và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo N.
Bị cáo Quan Thị N không có ý kiến tham gia tranh luận. Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất, để bị cáo cải tạo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, bị hại đã có lời khai trong quá trình điều tra; bị cáo nhất trí xét xử vắng mặt bị hại. Do vậy việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình, hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, lời khai của người bị hại, các dữ liệu điện tử và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa không phát sinh thêm tình tiết mới. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/8/2009 tại thôn B, xã P, huyện C (nay là huyện L), tỉnh Tuyên Quang, Quan Thị N, cư trú tại thôn B, xã P đã có hành vi lừa gạt, rủ Ma Thị T1, ở thôn B đi Lào Cai làm thuê công việc rửa bát, bán quần áo với mức lương cao (thực chất là đưa sang Trung Quốc làm gái bán dâm), T1 đồng ý. Ngày 23/8/2009, N đã đưa T1 đến thành phố L, sau đó theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc, giao Tươi cho một người phụ nữ tên H1 để làm gái bán dâm, nhưng do T1 không đồng ý nên H1 đã bán T1 cho một người đàn ông Trung Quốc (tên là D) làm vợ (trước đó, năm 2007, N sang Trung Quốc làm gái bán dâm dưới sự quản lý của người phụ nữ tên H1. Đến năm 2009, N không muốn làm bán dâm nữa nên N về Việt Nam tìm phụ nữ đưa sang Trung Quốc chuyển giao cho H1 để làm gái bán dâm thay cho N).
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Quan Thị N về tội Mua bán người theo điểm d khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo - ông Nguyễn Văn T đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, k, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Quan Thị N dưới mức khởi điểm của khung hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo N khai, khi về nhà do bị cáo mâu thuẫn cãi nhau với mẹ bị cáo và sợ H1 tung ảnh bán dâm nên bị cáo đã nói dối để rủ T1 sang Trung Quốc làm việc bán dâm thay cho mình, nhưng không có chứng cứ về việc H1 có ảnh hay video về việc H1 bán dâm, hơn nữa đây không phải là lý do cần thiết, nghiêm trọng đến mức để bị cáo phải làm hại đến cuộc sống, nhân phẩm, danh dự của một người khác, nên không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội vì bị người khác đe doạ” theo quy định tại điểm k, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo N theo đề nghị của người bào chữa.
[4] Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm nhân phẩm, danh dự, quyền tự do thân thể của con người, không những thế còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra từ năm 2009, phạm tội Mua bán phụ nữ, quy định tại khoản 2, Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999; nhưng đến ngày 19/11/2024 bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã, hành vi của bị cáo tương ứng tội Mua bán người, quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét thấy khung hình phạt quy định tại khoản 2, Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 là từ 05 năm đến 20 năm, thuộc trường hợp “Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”; khung hình phạt quy định tại khoản 2, Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 là từ 08 năm đến 15 năm, thuộc trường hợp “Tội rất nghiêm trọng”. Do đó, theo nguyên tắc có lợi, Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, khi xét xử phải vận dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên xử phạt bị cáo Quan Thị N mức án khởi điểm của điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 là phù hợp với quy định thể hiện tính nhân đạo của pháp luật và cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt tù nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để dăn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp cần xem xét chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra bị hại Ma Thị T1 yêu cầu bị cáo Quan Thị N bồi thường danh dự, nhân phẩm theo quy định pháp luật. Sau khi Toà án ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngày 08/5/2025 bị hại T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo N bồi thường danh dự, nhân phẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Các vấn đề khác: Đối với hành vi xuất nhập cảnh trái phép của Quan Thị N năm 2009, do đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên không xem xét xử lý.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra Chu Thị T2, sinh năm 1990, cư trú tại thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang khai: Ngày 05/8/2009 bị Quan Thị N lừa đưa Thuỳ từ Việt Nam sang Trung Quốc làm việc thuê. Khi đến Trung Quốc, T2 bị chủ quán người Trung Quốc bắt ép đi bán dâm nhưng T2 không đồng ý, đồng thời tuyệt thực (không ăn, không uống) để phản đối. Sau đó, N cho T2 422.000 đồng, rồi đưa T2 ra bến sông, thuê lái đò đưa T2 về Việt Nam. Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra, nhưng không có căn cứ chứng minh hành vi của N nên HĐXX không có căn cứ để xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo quan Thị N (thuộc gia đình hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số, cư trú lại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí) nên được miến án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Quan Thị N phạm tội: Mua bán người.
1. Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 150; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Quan Thị N 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 19/11/2024.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Quan Thị N được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 06/6/2025. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Nam |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Tâm – Hoàng Thị Duyên |
Nguyễn Đức Nam |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về mua bán người (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán người (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quan Thị Nhạc
