Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 29/2025/HS-ST

Ngày: 04-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Đăng Tố

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Văn Thăng
  2. Ông Đinh Văn Thông

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Phi Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Đình Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị B, sinh năm 1980, tại: Bắc Ninh;

Nơi cư trú: khu phố F, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Căn cước số: [...], ngày cấp: 11-8-2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1947; con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1949; có chồng: Phạm Khả H, sinh năm 1975; có 02 người con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2006; Tiền án: Năm 2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xử phạt số tiền 30.000.000đ, về tội: “Đánh bạc” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2022/HS-ST ngày 27-5-2022, chấp hành xong hình phạt chính và án phí ngày 05-11-2024; Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 01-11-2024, tạm giam từ ngày 07-11-2024 đến ngày 17-12-2024 được thay đổi biện pháp bảo lĩnh; bị bắt, tạm giam từ ngày 14-02-2025 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (nay là Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại khu vực L) cho đến nay, (Có mặt).

2. Nguyễn Đăng T, sinh năm 1975, tại: Thanh Hóa;

Nơi cư trú: tổ F, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Căn cước số: [...], ngày cấp: 12-4-2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông: Nguyễn Đăng C, sinh năm 1935; con bà: Chu Thị K (chết); có vợ: Lại Thị Thu C1, sinh năm 1981; có 02 người con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Năm 2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xử phạt số tiền 25.000.000đ, về tội: “Đánh bạc” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HS-ST ngày 09-3-2023, chấp hành xong hình phạt chính và án phí ngày 18-01-2024; Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 01-11-2024, tạm giam từ ngày 07-11-2024 đến ngày 17-12-2024 được thay đổi biện pháp bảo lĩnh; bị bắt, tạm giam từ ngày 17-02-2025 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (nay là Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại khu vực L) cho đến nay, (Có mặt).

3. Trần Đức L, sinh năm 1966, tại: Hà Tĩnh;

Nơi cư trú: khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; căn cước số: [...], ngày cấp: 16-9-2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông: Trần B1, sinh năm 1914 (chết); con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1924 (chết); có vợ: Phan Thị H1, sinh năm 1968; có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1996; Tiền án: Năm 2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội: “Đánh bạc” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2022/HS-ST ngày 27-5-2022, chấp hành xong thời gian thử thách ngày 27-5-2023, chấp hành xong hình phạt bổ sung ngày 04-11-2024; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 01-01-2018, bị Công an thị xã L (nay là thành phố L) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chấp hành xong quyết định ngày 06-4-2018;

Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 07-11-2024 cho đến nay, (Có mặt).

4. Trần Thị H2, sinh năm 1985; tại: Thanh Hóa;

Nơi cư trú: ấp A G, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 03/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; căn cước số: [...], ngày cấp: 01-5-2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông: Trần Văn H3, sinh năm 1959 (chết); con bà: Nguyễn Thị H4, sinh năm 1961; có chồng: Dương Trung H5, sinh năm 1982; có người con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 20-3-2019, bị C (nay là thành phố) Long Khánh khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích” theo quyết định khởi tố bị can số 69/QĐ, sau đó được Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo Quyết định số 01/QĐ-VKSLK ngày 15-8-2019;

Bị tạm giữ từ ngày 01-11-2024 đến ngày 07-11-2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 01-11-2024, Trần Đức L, Nguyền Thị B2, Nguyễn Đăng T và Trần Thị H2 đến nhà bà Trần Thị B3, sinh năm 1948, tại: khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai để thăm bệnh ông Trần Cao C2 (chồng bà B3) mới xuất viện về. Sau khi thăm bệnh xong, cả bốn người cùng rủ nhau qua căn nhà kế bên, nơi trước đây con gái bà B3 là chị Trần Thị Thúy H6 sinh sống, nay bỏ không (hiện tại do bà B3 đang quản lý) để đánh bạc. Tại đây L, B2, T và H2 lấy ba bộ bài tây 52 lá đã có sẵn từ trước chơi bài “Phỏm”, thắng thua bằng tiền. Hình thức chơi “Phỏm” như sau:

Dùng bộ bài tây 52 lá, chia cho mỗi người 09 lá, người đánh đầu được chia 10 lá, đánh theo vòng, các phỏm được tính như sau: 03 con bài giống nhau trở lên thành 01 phỏm, 03 con bài trở lên đồng chất (cơ, rô, chuồn, bích) thành một phỏm, đánh theo vòng lượt đánh. Lúc đánh bài ai bị ăn bài con thứ nhất thua người ăn 50.000 đồng, con thứ 02 là 100.000 đồng, con thứ 03 là 150.000 đồng, con chốt hạ là 200.000 đồng. Nêu ai đánh cho người khác ăn đủ 03 con bài “Ù” thì người đó phải đền cho các nhà thua, nghĩa là phải chung đủ cho người ăn ván bài “Ù”, được gọi là “Ù đền”. Sau khi đánh xong 04 lượt thì tính thắng thua bằng cách tính số điểm trên phần bài còn lại của mỗi người chơi (trừ ra các phỏm), số điểm tương ứng từ A (Át) đến 10, các quân bài J, Q, K tương ứng với số điểm 11, 12, 13 điểm. Người ít điểm nhất thì về nhất và thắng những người còn lại, người về nhì thua 50.000đ; về thứ ba thua 100.000đ; về thứ 4 thua 150.000đ; người bị cháy (không có phỏm nào) thua 200.000đ; người nào “Ừ” thì thắng những người còn lại mỗi người 250.000₫.

Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, khi Trần Đức L, Nguyền Thị B2, Nguyễn Đăng T và Trần Thị H2 đang đánh bài thì bị Công an thành phố L phát hiện, bắt quả tang. Công an thu giữ trên chiếu bạc số tiền 2.750.000đ, tạm giữ trên người của các con bạc số tiền 14.350.000đ. Quá trình điều tra xác định được: (1) Nguyễn Thị B mang theo số tiền 8.000.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình chơi thắng bạc số tiền 100.000 đồng; (2) Nguyễn Đăng T mang theo số tiền 3.150.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình chơi thua bạc số tiền 300.000 đồng; (3) Trần Đức L mang theo số tiền 2.800.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình chơi thắng bạc số tiền 400.000 đồng; (4) Trần Thị H2 mang theo số tiền 3.150.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình chơi thua bạc số tiền 200.000 đồng.

Tại thời điểm bắt quả tang các bị cáo, thu giữ các vật chứng, tài sản sau đây:

  1. Thu giữ trên chiếu bạc: số tiền 2.750.000đ; 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 02 bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng; 01 cái mền màu xanh; 01 cái bàn sắt;
  2. Thu giữ trên người Nguyễn Thị B số tiền 8.000.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, số I: 353187652745165;
  3. Thu giữ trên người Nguyễn Đăng T số tiền 2.850.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, số I: 357569692566907;
  4. Thu giữ trên người Trần Đức L số tiền 1.000.000đ và 01 điện thoại Iphone 8 Plus, số I: 353503750683662;
  5. Thu giữ trên người Trần Thị H2 số tiền 2.500.000đ và 01 điện thoại Iphone 12 Promax, số I: 352850791017413.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKSLK ngày 10-01-2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố các bị cáo về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) (BLHS năm 2015). Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị như sau: (1) Về tội danh: đề nghị tuyên bố các bị cáo phạm tội: “Đánh bạc”. (2) Về hình phạt: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 (đối với các bị cáo B, T, L); điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 (đối với bị cáo H2), đề nghị xử phạt các bị cáo như sau: Về hình phạt chính: (1) bị cáo B từ 14 đến 18 tháng tù; (2) bị cáo T từ 10 đến 14 tháng tù; (3) Bị cáo L từ 06 đến 10 tháng tù; (4) Bị cáo H2 từ 06 đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng. Về hình phạt bổ sung: đề nghị xử phạt tiền mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Các bị cáo B, L, H2 thừa nhận hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

- Ý kiến tranh luận của bị cáo T: bị cáo có thời gian tham gia công tác tại Công an tỉnh Đ và Công an thị xã L (nay là thành phố L), có nhiều đóng góp cho lực lượng Công an nhân dân, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bổ sung tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng như sau: các bị cáo ân hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người làm chứng, người chứng kiến không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 01-11-2024, tại nhà ở thuộc khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền quản lý của bà Trần Thị B3, các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Đăng T, Trần Đức L, Trần Thị H2 đã cùng rủ nhau thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “Phỏm”, được thua bằng tiền, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 17.100.000₫ (Mười bảy triệu một trăm nghìn đồng), khi đang thực hiện hành vi thì bị phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015.

[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương. Các bị cáo nhận thức rõ việc đánh bạc được thua bằng tiền dưới bất cứ hình thức nào đều bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì động cơ tư lợi mà bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Các bị cáo B, T, L đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên lần phạm tội này các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLSH năm 2015. Bị cáo H2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Bị cáo T trong quá trình tham gia lực lượng Công an nhân dân đã có thành tích xuất sắc, được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang, nên áp dụng tinh thần hướng dẫn tại Mục 5, Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 BLSH năm 2015. Ngoài ra, trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ gia đình các bị cáo cung cấp và xác nhận của chính quyền địa phương, Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ sau đây được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015: (1) Theo hồ sơ bệnh án, thì bị cáo L đang có bệnh về tim mạch và tiền sử động kinh, hiện đang trong quá trình uống thuốc điều trị; (2) bị cáo T có cha, mẹ ruột là người có công với cách mạng, tham gia kháng chiến chống Mỹ, được Chủ tịch nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương; (3) bị cáo H2 là lao động chính trong gia đình có 02 con nhỏ, chồng bị cáo hiện đang điều trị HIV. Riêng bị cáo B quá trình chuẩn bị xét xử có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, hiện đang nuôi dưỡng mẹ già nhưng không có xác nhận của chính quyền địa phương, nên không có cơ sở để xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ.

[6] Về tính chất đồng phạm và các căn cứ để phân hoá hình phạt

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, đều là người thực hành, tham gia trong vụ án với vai trò, vị trí ngang nhau. Tuy nhiên, cần phân hóa hình phạt đối với từng bị cáo tương ứng với mức độ tham gia và nhân thân của các bị cáo trong vụ án. Các bị cáo B, T, L có nhân thân xấu, đã từng bị kết án cùng về tội: “Đánh bạc”, các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật, lần phạm tội này của các bị cáo là tái phạm, nên hình phạt đối với các bị cáo phải nghiêm khắc hơn bị cáo H2. Đối với bị cáo H2, mặc dù đã bị khởi tố bị can, nhưng sau đó được Viện kiểm sát đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can (chưa bị kết án), nên không coi là nhân thân xấu, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội lần đầu, nên hình phạt nhẹ hơn so với các bị cáo khác. Ngoài ra, cần căn cứ vào mức độ tham gia của các bị cáo để làm căn cứ quyết định hình phạt, cụ thể: (1) Bị cáo B đưa vào đánh bạc số tiền 8.000.000.000đ; (2) Bị cáo T đưa vào đánh bạc số tiền 3.150.000đ; (3) Bị cáo L đưa vào đánh bạc số tiền 2.800.000đ; (4) Bị cáo H2 đưa vào đánh bạc số tiền 3.150.000₫.

[7] Về hình phạt bổ sung

Các bị cáo hiện không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Các biện pháp tư pháp

8.1. Về số tiền sử dụng vào việc phạm tội

Tổng số tiền 17.100.000đ, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.

8.2. Về số tiền thu lợi bất chính

Bị cáo B thắng bạc số tiền 100.000đ; bị cáo L thắng bạc số tiền 400.000đ, đây là khoản tiền thu lợi bất chính, nên buộc các bị cáo phải nộp vào Ngân sách nhà nước.

8.3. Về xử lý vật chứng và tài sản đã thu giữ

04 điện thoại di động là tài sản hợp pháp của các bị cáo, không liên quan đến tội phạm, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiến hành trả lại tài sản là đúng quy định của pháp luật. 01 (Một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 02 (Hai) bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng; 01 cái mền màu xanh; 01 cái bàn sắt là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu huỷ.

[9] Về án phí

Các bị cáo là người bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về các vấn đề khác

Bà Trần Thị B3 là người quản lý hợp pháp đối với nhà ở thuộc khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nhưng bản thân không biết các bị cáo sử dụng làm địa điểm đánh bạc nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự.

[11] Về luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà

Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà về đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tuy nhiên, bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên giảm một phần hình phạt so với đề nghị; bị cáo H2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đưa vào đánh bạc không lớn, nên xử phạt tiền là đủ nghiêm; nghề nghiệp và thu nhập của các bị cáo không ổn định, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Đăng T, Trần Đức L, Trần Thị H2 phạm tội: “Đánh bạc”.

  2. Về hình phạt:

    2.1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14-02-2025, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 01-11-2024 đến ngày 17-12-2024.

    2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17-02-2025, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 01-11-2024 đến ngày 17-12-2024.

    2.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trần Đức L 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    2.4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trần Thị H2 số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

  3. Các biện pháp tư pháp:

    Căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    3.1. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 17.100.000đ (Mười bảy triệu một trăm nghìn đồng).

    3.2. Tiêu huỷ 01 (Một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 02 (Hai) bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng; 01 (Một) cái mền màu xanh; 01 (Một) cái bàn sắt .

    (Toàn bộ vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-01-2025; số tiền 17.100.000 đồng theo Chứng từ giao dịch ngày 16-01-2025 của Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh Đ, Phòng G).

    3.3. Buộc bị cáo B phải nộp số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng); bị cáo L phải nộp số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) để sung vào Ngân sách nhà nước.

  4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
  6. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; (1)
  • - VKSND thành phố Long Khánh; (2)
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Đồng Nai (B5); (1)
  • - Phân trại tam giam khu vực Long Khánh; (1)
  • - CQTHAHS CA tỉnh Đồng Nai (PC10); (1)
  • - CCTHADS thành phố Long Khánh; (1)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; (1)
  • - Bị cáo; (4)
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đăng Tố

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐÁNH BẠC
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger