Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-PT

Ngày 21 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Mạnh và ông Nguyễn Vĩnh Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Văn C và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đình C1, Ngô Văn T, Nguyễn Hữu Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 186/2024/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Đình C1, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2004 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T1 và bà Đinh Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 7/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V (có mặt).

  2. Ngô Văn T, sinh ngày 25 tháng 7 năm 2005 tại Phú Thọ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: TDP C, phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Đ (đã chết) và bà Phan Thị C2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh V (có mặt).

  3. Nguyễn Hữu Q, sinh ngày 15 tháng 01 năm 2006 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu G và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh V (có mặt).

Ngoài ra trong vụ án còn có 22 bị cáo khác, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho các bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/9/2023 Phùng Huy H1, sinh năm: 2004, trú tại: TDP T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc sử dụng tài khoản Facebook của mình có tên “Meo Meo” đăng bài trên mạng xã hội Facebook nội dung thách thức Dương Văn L, sinh năm: 2005, trú tại: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc có tài khoản Facebook là “Dương L” (thường hay gọi là L kều) đánh nhau nên L và Hoàng liên T2 đăng các bình luận thách thức nhau. Sau đó, L và H1 hẹn gặp ở khu vực cầu B, thuộc phường Đ, thành phố V để đánh nhau.

Sáng ngày 25/9/2023 Dương Văn L nhắn tin qua mạng xã hội cho Đoàn Mạnh Q1 và Ngô Tùng D với nội dung bảo Q1, D rủ thêm người tập trung ở quán bán hàng nước “Xóm” tại thị trấn H, huyện B để cùng nhau đi đến thành phố V đánh nhau với nhóm của H1. Sau đó, L rủ Nguyễn Văn L1 chở L đến thành phố V đánh nhau. Q1, D và L1 đồng ý đồng thời rủ thêm các nam giới là thanh thiếu niên khác ở địa bàn huyện B, thành phố P và huyện M, huyện S, thành phố Hà Nội với mục đích đi đánh nhau với L ở thành phố V. Cụ thể các nhóm tham gia như sau:

Sau khi được Dương Văn L bảo tập hợp người để đi đánh nhau, Ngô Tùng D rủ Nguyễn Xuân M; Đặng Hồng A, sinh ngày 24/12/2007, trú tại Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện B; Trần Đình K, sinh ngày 23/12/2007, trú tại Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện B; Nguyễn Quang L2; Nguyễn Hồng Đ1; Đặng Hồng A rủ Lê Đức P; Trần Tuấn T3, sinh ngày 21/9/2008, trú tại Thôn C, thị trấn Đ, huyện B; Nguyễn Văn Đ2, sinh ngày 30/12/2007; Nguyễn Đình H2, sinh ngày 09/8/2008, đều trú tại Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện B; Trần Đình K rủ Nguyễn Việt A1, sinh ngày 19/8/2008, trú tại Tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện B; Nguyễn Quang L2 rủ Lê Văn L3 đi đánh nhau ở thành phố V thì những người này đều đồng ý tham gia.

Sau khi được Dương Văn L rủ đi đánh nhau, Đoàn Mạnh Q1 đồng ý và rủ Trần Khánh H3, sinh ngày 20/8/2008, trú tại Tổ dân phố V, thị trấn B, huyện B; Nguyễn Tiến M1; Lưu Đức D1, sinh ngày 05/12/2007, trú tại Thôn T, xã T, huyện B đi đánh nhau ở thành phố V thì những người này đều đồng ý tham gia.

Mặt khác, Lưu Đức D1 nói bản thân có mâu thuẫn với 1 nam giới có tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Phan H4” và có hẹn gặp nhau tại khu vực Cầu B, thành phố V nên D1 rủ Q1, M1 tham gia cùng đi tìm người nam giới nói trên để đánh nhau, đồng thời D1 gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T4, sinh ngày 03/11/2005 trú tại Tổ dân phố K, phường N, thành phố P rủ T4 đi cùng để đánh nhau với nam giới tên “Phan H4”, T4 đồng ý và hẹn gặp D1 tại Cổng khu công nghiệp T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để đi đánh nhau.

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 25/9/2023, Nguyễn Văn L1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen chở L cầm theo 01 dao dài khoảng 60cm, đầu mũi nhọn, 1 lưỡi (thường gọi là dao mèo) đi đến quán bán hàng nước “Xóm” ở thị trấn H, huyện B để tập hợp với nhóm thanh niên trên. Lúc này, nhóm thanh niên do L tụ tập, rủ rê đi lên thành phố V để đánh nhau gồm có Đoàn Mạnh Q1, Ngô Tùng D, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Xuân M, Đặng Hồng A, Trần Đình K, Nguyễn Quang L2, Nguyễn Hồng Đ1, Lê Đức P, Trần Tuấn T3, Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Đình H2, Nguyễn Việt A1, Lê Văn L3, Trần Khánh H3, Nguyễn Tiến M1, Lưu Đức D1, Nguyễn Văn T4 theo chỉ dẫn của L2 cùng đi đến cổng Khu công nghiệp T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc đợi nhóm thanh niên ở thành phố P và huyện S, thành phố Hà Nội đến.

Ngoài việc rủ rê, tập hợp đối tượng sống ở huyện B như trên đi đánh nhau, Ngô Tùng D tiếp tục rủ và bảo Bùi Đức A2 gọi thêm người để cùng D đi đến thành phố V tham gia đánh nhau, Đức A2 đồng ý, rủ Nguyễn Văn Đ3; Trần Sơn T5. Trần Sơn T5 rủ Nguyễn Tiến Đ4 tham gia cùng. Nguyễn Văn Đ3 rủ Nguyễn Hữu Q; Nguyễn Trọng D2; Nguyễn Văn T4; Nguyễn Văn K1; Nguyễn Đức T6. Nguyễn Văn T4 lúc này đã được Lưu Đức D1 liên hệ và rủ đi đánh nhau nên T4 cũng rủ Nguyễn Hữu Q, Nguyễn Trọng D2, Nguyễn Đức T6, Nguyễn Văn Đ3 đi đánh nhau cùng với D2. T4 tiếp tục rủ Ngô Văn T đi đánh nhau. Nguyễn Văn K1 rủ Đinh Văn L4; Đặng Sỹ T7, Lưu Thế H5, Nguyễn Đình C1 đi đánh nhau. Nguyễn Đình C1 đồng ý và rủ Đỗ Hoàng H6, Nguyễn Văn S đi đánh nhau.

Sau đó cả nhóm đến khu vực khách sạn N2 thuộc thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc thì Nguyễn Văn K1 và Đặng Sỹ T7 đến bụi cây giáp nghĩa trang lấy 04 dao tự chế có hình dạng giống nhau, dạng ống tuýp gắn lưỡi dao ở đầu (thường gọi dao phóng lợn) có chiều dài khoảng 2,5m, lưỡi dao dài khoảng 20cm; 01 ống tuýp tự chế dài khoảng 2,3m đầu gắn 03 thanh kim loại nhọn chiều dài khoảng 30cm (thường gọi là đinh ba) do Nguyễn Văn Đ3 và K1 cất giấu từ trước và phân phát cho mọi người trong nhóm để sử dụng đi đánh nhau.

Sau khi có được hung khí, cả nhóm di chuyển trên các xe máy đến khu vực cổng Khu công nghiệp T 3 theo chỉ dẫn của T7 gặp, nhập với nhóm B rồi tất cả đi về hướng thành phố V.

Các đối tượng di chuyển trên 14 xe máy mang theo hung khí cụ thể:

  • Xe số 1 do Nguyễn Hữu Q điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade BKS: 88H1-187.09 màu đen chở Nguyễn Văn Đ3 ngồi phía sau cầm theo 01 dao phóng lợn.
  • Xe số 2 do Nguyễn Trọng D2 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ (không xác định được biển kiểm soát) chở Nguyễn Đức T6 ngồi phía sau cầm theo 01 đinh ba rồi đưa cho Dương Văn L.
  • Xe số 3 do Ngô Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 88H1-317.94 màu cam chở Nguyễn Văn T4 ngồi phía sau cầm theo 01 dao phóng lợn.
  • Xe số 4 do Nguyễn Tiến Đ4 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave mang BSK:88C1-344.93 (sau đó đã tháo biển kiểm soát) chở Trần Sơn T5, Bùi Đức A2 ngồi phía sau.
  • Xe số 5 do Lưu Thế H5 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29S7-032.92 chở Nguyễn Văn K1 ngồi phía sau cầm theo 01 dao phóng lợn.
  • Xe số 6 do Nguyễn Văn S điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 88H1-362.51 chở Nguyễn Đình C1 và Đỗ Hoàng H6.
  • Xe số 7 do Lê Văn L3 điều khiển xe máy BKS: 88S8-4468 chở Nguyễn Quang L2 không mang theo hung khí gì.
  • Xe số 8 do Nguyễn Xuân M điều khiển xe máy BKS: 88G1-555.98 chở Ngô Tùng D; Nguyễn Hồng Đ1, trong đó Dương cầm 01 dao mèo.
  • Xe số 9 nhãn hiệu Honda Wave màu đen không lắp biển kiểm soát do Nguyễn Văn L1 đều khiển chở Dương Văn L, trong đó L cầm 01 đinh ba.
  • Xe số 10 do Nguyễn Tiến M1 điều khiển xe máy BKS: 88E-373.53 chở Đoàn Mạnh Q1 và Lưu Đức D1.
  • Xe số 11 do Lê Đức P điều khiển xe nhãn hiệu Honda Wave BKS: 88G1-509.57 chở Đặng Hồng A và Nguyễn Văn Đ2.
  • Xe số 12 do Trần Đình K điều khiển xe máy BKS: 88G1-521.98 chở Trần Khánh H3 và Nguyễn Việt A1.
  • Xe số 13 do Trần Tuấn T3 điều khiển xe máy BKS:29X2 – 3481 chở Nguyễn Đình H2.
  • Xe số 14 do Đặng Sỹ T7 điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 98L8-3526 chở Đinh Văn L4.

Các đối tượng di chuyển theo lộ trình từ Khu Công nghiệp T đi theo đường qua xã T và xã H, huyện B để đi đến phường K, thành phố V. Khi đi đến thành phố V, các đối tượng di chuyển theo đường T qua chung cư B đến ngã tư giao nhau giữa đường T và Nguyễn Tất T8, tiếp tục đi thẳng vào đường T, đi qua siêu Co.op Mart để vào ngã tư giao cắt giữa đường M và đường T, tiếp tục đi thẳng qua trụ sở Công an tỉnh V thuộc địa phận phường K, thành phố V. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường H và đường T, nhìn thấy có lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ đi tuần tra, sợ bị phát hiện, xử lý nên cả nhóm tăng ga bỏ chạy rẽ phải vào đường H theo hướng từ quảng trường H về UBND tỉnh V thuộc địa phận phường Đ, thành phố V; Riêng Đặng Sỹ T7 điều khiển xe máy chở theo Đinh Văn L4 và Nguyễn Văn S chở theo Nguyễn Đình C1 và Đỗ Hoàng H6 rẽ trái vào đường H về hướng Nhà thi đấu tỉnh Vĩnh Phúc, sau đó quay xe đi về thành phố P, không tiếp tục đi cùng nhóm L nữa. Khi đi đến trụ sở Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh V và một số Sở, ngành tỉnh Vĩnh Phúc, các đối tượng rẽ trái vào đường N, sau đó rẽ phải sang đường L hướng đi đường K thuộc địa phận phường Đ, thành phố V. Khi đi được khoảng 100m thì xe máy do Lê Văn L3 chở theo Nguyễn Quang L2 bị hỏng nên L3 và L2 quay về, không tham gia cùng nhóm L2 nữa. Các xe máy còn lại tiếp tục di chuyển theo đường L đến ngã tư giao nhau giữa đường K và đường L thì rẽ trái vào đường K hướng từ phường K đi Đ thuộc địa phận phường N, thành phố V. Các đối tượng di chuyển theo đường K, đi qua trụ sở Ngân hàng N3, Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ6, Bưu điện tỉnh V, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Đ tỉnh Vĩnh Phúc, tiếp tục đi vào đường K kéo dài để đi đến cầu Đ thuộc địa phận phường Đ, thành phố V là nơi các đối tượng hẹn đánh nhau. Trên đường di chuyển và đến cầu Đ, các đối tượng không thấy nhóm của Phùng Huy H1 và Phan H4 để đánh nhau nên các đối tượng di chuyển ra đường tránh thành phố V (đường BOT) thuộc địa phận xã T, thành phố V rồi di chuyển về huyện B, thành phố P cất giấu hung khí.

Khi di chuyển trên các tuyến đường tại thành phố V các đối tượng mang theo hung khí, dàn hàng ngang, hô hào, lạng lách đánh võng, không chấp hành tín hiệu đèn giao thông, vượt đèn đỏ, điều khiển phương tiện đi cắt ngang đầu các phương tiện di chuyển khiến người đi đường, người đi bộ và người tham gia giao thông sợ xảy ra va chạm hoặc bị nhóm đối tượng gây rối, phải dừng xe nhường đường cho nhóm nam giới này, lực lượng cảnh sát bảo vệ mục tiêu tại các cơ quan tăng cường bảo vệ, cụ thể:

  • Khi đi đến ngã tư G đường T và đường N thuộc phường K, thành phố V, anh Lưu Quang T9, sinh năm 1989, trú tại thôn P, xã T, huyện T điều khiển xe ô tô BKS: 30E-167.24; Anh Nguyễn Khắc Đ5, sinh năm 1991, trú tại Khu D, xã T, huyện Y điều khiển xe máy BKS: 88F1-525.10 đi trên đường T hướng về quảng trường H giảm tốc độ, nhường đường cho nhóm thanh niên trên.
  • Khi đi đến ngã tư G đường T và đường M thuộc phường K, thành phố V, anh Nguyễn Văn C3, sinh năm: 1984, trú tại Khu A, thị trấn T, huyện T điều khiểnxe ô tô BKS: 88E – 007.92 dừng xe bên đường, nhường đường cho nhóm này.
  • Khi di chuyển đến điểm giao nhau giữa đường L và đường K thuộc phường Đ, thành phố V, anh Dương Đình Q2, sinh năm: 1990, trú tại Tổ dân phố G, thành phố V điều khiển xe ô tô BKS: 88A – 610.32 đi trên đường L, khi đi đến điểm giao nhau với đường K, anh Q2 phát hiện nhóm thanh niên trên nên đã giảm tốc độ, nhường đường cho nhóm thanh niên trên.
  • Nhóm đối tượng di chuyển qua khu vực trụ sở Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Đ tỉnh Vĩnh Phúc trên đường K, phường N và phường Đ, thành phố V gây mất an toàn hoạt động của các mục tiêu được bảo vệ buộc lực lượng Cảnh sát bảo vệ phải tăng cường người và khóa, đóng cổng, triển khai các phương án bảo vệ mục tiêu.

- Quá trình di chuyển, nhóm đối tượng trên gây náo loạn trên đường, khiến các khách đang ngồi ăn, uống ở các quán hàng dọc đường hoảng sợ, một số người đứng dậy bỏ về, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của quán hàng, cụ thể: Quán bán hàng nước tại khu vực đường K kéo dài thuộc Khu đô thị B, phường Đ, thành phố V của anh Trần Quang N1, sinh năm 1973, trú tại Tổ dân phố V, phường T, thành phố V; Quán hàng ăn đêm tại đường K thuộc phường N, thành phố V của anh Hà Văn V, sinh năm 1993, trú tại Tổ dân phố L, phường L, thành phố V; Quán hàng nước trên đường K, phường N, thành phố V của bà Vũ Thị T10, sinh năm 1972, trú tại phường N, thành phố V.

Ngày 28/9/2023, Công an thành phố V nhận được Công văn số 968 ngày 26/9/2023 của Phòng Tham mưu Công an tỉnh V về việc: Khoảng 22 giờ 12 phút đến 22 giờ 25 phút ngày 25/9/2023, qua theo dõi giám sát camera tại Trung tâm quản lý, điều hành phương tiện kỹ thuật, phòng chống tội phạm Công an tỉnh V phát hiện khoảng 30 nam thanh niên điều khiển 14 xe máy mang theo hung khí, không đội mũ bảo hiểm, vượt đèn đỏ, điều khiển xe dàn hàng ngang, phóng nhanh vượt ẩu trên các tuyến đường trong thành phố V gây mất trật tự, an toàn công cộng.

Quá trình xác minh vụ việc Cơ quan CSĐT Công an thành phố V, Vĩnh Phúc nhận được Công văn từ Uỷ ban nhân dân và báo cáo từ Công an xã T, phường K, phường N, phường Đ về việc: Ngày 25/09/2023 tại địa bàn thành phố V có nhóm đối tượng nêu trên mang theo hung khí di chuyển với tốc độ cao, lạng lách đánh võng, không chấp hành tín hiệu đèn giao thông gây hoang mang lo sợ cho người đi đường, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn; Đề nghị Công an thành phố V xác minh làm rõ xử lý nhóm đối tượng về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Ngày 01/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tạm giữ của Nguyễn Văn Đ3 05 dao tự chế (thường gọi là dao phóng lợn); 02 ống tuýp kim loại gắn que sắt nhọn (thường gọi là đinh ba); 01 ống tuýp có gắn dao quắm ở đầu ống; 01 ống tuýp bằng kim loại. Ngày 03/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tạm giữ của Lưu Đức D1 01 dao dài 52cm cùng vỏ bao được làm bằng giấy cotton. Cơ quan điều tra đã niêm phong cụ thể như sau:

  • 01 vật có chiều dài tổng thể 3,23m; trong đó 1 phần dạng ống tuýp kim loại đường kính 2cm,có hàn gắn 01 dao dạng dao bầu dài 22cm, đầu mũi nhọn, loại dao 1 lưỡi, chiều rộng nhất của dao là 7,5cm; được niêm phong phần đầu lưỡi dao ký hiệu A1.
  • 01 vật có chiều dài tổng thể 2,24m; trong đó 1 phần dạng ống tuýp kim loại đường kính 2cm, có hàn gắn 01 dao dạng dao bầu dài 25cm, đầu mũi nhọn, loại dao 1 lưỡi, chiều rộng nhất của dao là 5cm; được niêm phong phần đầu lưỡi dao ký hiệu A2.
  • 01 vật có chiều dài tổng thể 3,23m, trong đó 1 phần dạng ống tuýp kim loại đường kính 2cm; có hàn gắn 01 dao dạng dao bầu dài 22cm, đầu mũi nhọn, loại dao 1 lưỡi, chiều rộng nhất của dao là 8,5cm; được niêm phong phần đầu lưỡi dao ký hiệu A3.
  • 01 vật có chiều dài tổng thể 3,2m; trong đó 1 phần dạng ống tuýp kim loại đường kính 2cm, có hàn gắn 01 dao dạng dao bầu dài 19 cm, đầu mũi nhọn, loại dao 1 lưỡi, chiều rộng nhất của dao là 6 cm; được niêm phong phần đầu lưỡi dao ký hiệu A4.
  • 01 vật có chiều dài tổng thể 3,23m, trong đó 1 phần dạng ống tuýp kim loại đường kính 2cm, có hàn gắn 01 dao dạng dao bầu dài 22 cm, đầu mũi nhọn, loại dao 1 lưỡi, chiều rộng nhất của dao là 7cm; được niêm phong phần đầu lưỡi dao ký hiệu A5.
  • 01 vật có chiều dài tổng thể 3,46m; trong đó 1 phần dạng ống tuýp kim loại đường kính 2cm, có hàn gắn 03 thanh kim loại, đầu mũi nhọn, chiều dài thanh kim loại ngắn nhất là 45cm, chiều dài thanh kim loại dài nhất là 47cm; được niêm phong phần gắn 3 thanh kim loại ký hiệu A6.
  • 01 vật có chiều dài tổng thể 3,4m; trong đó 1 phần dạng ống tuýp kim loại đường kính 2cm, có hàn gắn 03 thanh kim loại, đầu mũi nhọn, chiều dài thanh kim loại ngắn nhất là 30cm, chiều dài thanh kim loại dài nhất là 60cm; được niêm phong phần gắn 3 thanh kim loại ký hiệu A7.
  • 01 vật có chiều dài tổng thể 2,35m; trong đó 1 phần dạng ống kim loại đường kính 2cm, có hàn gắn 01 dao dạng dao quắm có chiều dài 27cm, đầu mũi tù, dạng dao 1 lưỡi; phần lưỡi dao rộng 6cm được niêm phong phần lưỡi dao ký hiệu A8.
  • 01 ống tuýp bằng kim loại đường kính 2 cm, dài 2m ký hiệu A9.
  • 01 dao dài 52cm, loại dao 1 lưỡi, cán dao dài 14cm, bản rộng nhất 5cm, đầu mũi dao nhọn được niêm phong phần lưỡi dao ký hiệu A10 (BL: 1423-1426).

Ngày 29/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V ra Quyết định số 714 trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh V giám định vũ khí với những đồ vật thu giữ được niêm phong ký hiệu từ A1 đến A10. Tại Kết luận giám định số 3294 ngày 06/12/2023, Phòng K2 Công an tỉnh V kết luận: Mẫu giám định A1 đến A8 là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí thô sơ theo khoản 4, Điều 3, Luật số 14/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, được sửa đổi bổ sung năm 2019. Mẫu vật hoạt động bình thường, có tính năng, tác dụng để đâm, chặt, chém. Mẫu niêm phong ký hiệu A9, A10 không phải là vũ khí.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 186/2024/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Dương Văn L, Ngô Tùng D, Nguyễn Văn Đ3, Nguyễn Văn K1, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Quang L2, Bùi Đức A2, Đoàn Mạnh Q1, Đặng Sỹ T7, Nguyễn Đình C1, Lưu Thế H5, Nguyễn Đức T6, Nguyễn Trọng D2, Nguyễn Tiến Đ4, Nguyễn Xuân M, Nguyễn Hồng Đ1, Trần Sơn T5, Nguyễn Văn L1, Ngô Văn T, Nguyễn Văn S, Đỗ Hoàng H6, Nguyễn Hữu Q, Lê Đức P, Đinh Văn L4, Lê Văn L3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” .

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/6/2024.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 26/6/2024.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Q 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 26/6/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với 22 bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 03, 06 và 11 tháng 12 năm 2024, các bị cáo Nguyễn Hữu Q, Ngô Văn T, Nguyễn Đình C1 kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 186/2024/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Đình C1, Ngô Văn T và Nguyễn Hữu Q giữ nguyên kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đình C1, Ngô Văn T và Nguyễn Hữu Q, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 186/2024/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, Ngô Văn T 02 (hai) năm tù, Nguyễn Hữu Q 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 186/2024/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận:

Do có mâu thuẫn qua mạng xã hội, Dương Văn L hẹn Phùng Huy H1 đến cầu Đ, phường Đ, thành phố V đánh nhau. Để thực hiện ý định trên, ngày 25/9/2023, Dương Văn L rủ Đoàn Mạnh Q1, Ngô Tùng D đi đánh nhau, đồng thời bảo Q1 và D rủ thêm người đi cùng. Tiếp nhận ý chí của L, các đối tượng trên đã rủ thêm những đối tượng khác sinh sống trên các địa bàn huyện B, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc và huyện S, thành phố Hà Nội. Tổng số lượng các đối tượng tham gia đi cùng với Dương Văn L gồm 33 người, bao gồm: Nguyễn Văn L1, Đoàn Mạnh Q1, Trần Khánh H3, Nguyễn Tiến M1, Lưu Đức D1, Ngô Tùng D, Đặng Hồng A, Nguyễn Xuân M, Nguyễn Hồng Đ1, Trần Đình K, Nguyễn Quang L2, Bùi Đức A2, Nguyễn Văn Đ2, Lê Đức P, Nguyễn Tuấn T11, Nguyễn Đình H2, Nguyễn Việt A1, Lê Văn L3, Trần Sơn T5, Nguyễn Văn Đ3, Nguyễn Tiến Đ4, Nguyễn Trọng D2, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn K1, Nguyễn Hữu Q, Nguyễn Đức T6, Ngô Văn T, Đinh Văn L4, Đặng Sỹ T7, Lưu Thế H5, Nguyễn Đình C1, Đỗ Hoàng H6 và Nguyễn Văn S.

Đ3 và K1 chuẩn bị 05 dao tự chế (thường gọi là dao phóng lợn); 02 ống tuýp kim loại gắn que sắt nhọn (thường gọi là đinh ba); 01 ống tuýp có gắn dao quắm ở đầu ống; 01 ống tuýp bằng kim loại chia cho cả nhóm. Sau khi tập hợp tại Khu công nghiệp T, các đối tượng đi trên 14 xe máy, mang theo vũ khí di chuyển trên các tuyến đường trung tâm ở thành phố V với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, không đội mũ bảo hiểm, không chấp hành tín hiệu đèn giao thông, la hét gây hoảng sợ cho người dân tham gia giao thông, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại khu vực khiến cho lực lượng cảnh sát bảo vệ mục tiêu tại trụ sở Tỉnh ủy Vĩnh Phúc và Đài truyền hình tỉnh V phải tăng cường công tác bảo vệ mục tiêu.

Trong tổng số 34 đối tượng tham gia gây rối vào tối ngày 25/9/2023, có 08 đối tượng chưa đủ 16 tuổi; còn lại 26 đối tượng gồm Dương Văn L, Ngô Tùng D, Nguyễn Văn Đ3, Nguyễn Văn K1, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Quang L2, Bùi Đức A2, Đoàn Mạnh Q1, Đặng Sỹ T7, Nguyễn Đình C1, Lưu Thế H5, Nguyễn Đức T6, Nguyễn Trọng D2, Nguyễn Tiến Đ4, Nguyễn Xuân M, Nguyễn Hồng Đ1, Trần Sơn T5, Nguyễn Văn L1, Ngô Văn T, Nguyễn Văn S, Đỗ Hoàng H6, Nguyễn Hữu Q, Lê Đức P, Đinh Văn L4, Lê Văn L3, Nguyễn Tiến M1 đã đủ 16 tuổi trở lên.

Hành vi của Dương Văn L và đồng bọn di chuyển trên nhiều xe mô tô với tốc độ cao, mang theo nhiều hung khí nguy hiểm tìm đánh nhau suốt quãng đường dài, qua nhiều tuyến đường trung tâm, nơi tập trung các cơ quan trọng yếu của tỉnh và thành phố vào khoảng thời gian 22h12' đến 22h25 đã gây hoang mang, lo sợ cho người dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại khu vực đã đủ yếu tố để cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng pháp luật, xét xử các bị cáo Nguyễn Đình C1, Ngô Văn T, Nguyễn Hữu Q và các bị cáo khác về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đình C1, Ngô Văn T, Nguyễn Hữu Q thấy:

Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo Ngô Văn T nộp tài liệu chứng cứ mới thể hiện bố đẻ của bị cáo là ông Ngô Văn Đ được chủ tịch UBND tỉnh V tặng Bằng khen của nên bị cáo T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội đã đều đủ 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nhưng không làm gương cho những người chưa thành niên mà lại cùng với những người chưa thành niên thực hiện tội phạm nghiêm trọng. Các bị cáo đều thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm tích cực nên cần xử nghiêm các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất vụ án, các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của các bị cáo từ đó áp dụng pháp luật xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, Ngô Văn T 02 (hai) năm tù, Nguyễn Hữu Q 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo là không có căn cứ, không được chấp nhận.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

[6] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đình C1, Ngô Văn T, Nguyễn Hữu Q không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Không chấp nhận

kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đình C1, Ngô Văn T, Nguyễn Hữu Q, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 186/2024/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tuyên bố các bị cáo các bị cáo Nguyễn Đình C1, Ngô Văn T, Nguyễn Hữu Q phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/6/2024.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 26/6/2024.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Q 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 26/6/2024.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Nguyễn Đình C1, Ngô Văn T, Nguyễn Hữu Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Phòng HS - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND thành phố Vĩnh Yên;
  • - Chi cục THADS thành phố Vĩnh Yên;
  • - VKSND thành phố Vĩnh Yên;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS; Tòa hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-PT ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 29/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Đình C1, Ngô Văn T, Nguyễn Hữu Q phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger