|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-PT Ngày 10/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Phạm Trung Thực |
| Các Thẩm phán: | Ông Hoàng Tuấn Trọng. |
| Bà Nguyễn Thị Hương. |
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 45/2025/HSPT ngày 09/5/2025 đối với bị cáo Phạm Văn T, Bùi Thị Thu H do có kháng cáo của hai bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HSST ngày 27/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Bị cáo có kháng cáo:
- Phạm Văn T, sinh năm 1996; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phạm Văn Q, sinh năm 1974; Con bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1973; Anh, chị, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Lê Thị M, sinh năm 1998; Con: Có 1 con sinh năm 2025; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên toà).
- Bùi Thị Thu H, sinh năm 2004; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nguyên quán: Xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: Bản P, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: Khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Công K, sinh năm 1977; Con bà: Huấn Thị H1, sinh năm 1976; A, chị, em ruột: Có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai. Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên toà).
- Trong vụ án còn có 07 bị cáo và 07 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/7/2024 Nguyễn Vĩnh D, Lê Mạnh T1, Đinh Hữu Đ1 cùng đi ăn cỗ tại tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi ăn cỗ xong trên đường về cả 03 thống nhất về tỉnh Hưng Yên thuê phòng hát và sử dụng ma túy. T1 bảo D và Đ1 về quán K3 ở thị trấn K, huyện K đặt phòng hát và sử dụng ma túy. D sử dụng điện thoại di động gọi cho Đàm Quang L cùng đi chơi đồ (ý là cùng sử dụng ma túy) và được Luật đồng ý. Qua trao đổi với nhau D bảo Luật đặt 04 chỉ ma túy loại “Ketamine” và 04 viên ma túy loại “Kẹo” và địa điểm là dùng ở quán K3. D thống nhất với T1 và Đ1 sau khi thuê phòng hát để sử dụng ma túy xong sẽ chia tiền cho D, T1, Đ1 và Luật. Sau khi thống nhất với D, L liên lạc với Phạm Văn T là quản lý quán V qua ứng dụng Messenger hỏi: “Quán có hát được không”, T trả lời: “Quán em có, bao giờ thì xuống, anh đi mấy người, gọi mấy nhân viên để em gọi nhân viên xuống đỡ phải đợi” thì L bảo do đang ở chỗ đông người không tiện nói chuyện nên Luật sẽ nhắn tin. Sau đó Luật nhắn tin cho T bảo lấy cho 04 chỉ ma túy Ketamine và 04 viên ma túy loại Kẹo, T nhắn tin hỏi Luật cần mấy nhân viên để chuẩn bị, Luật nhắn lại là 04 nhân viên. Thưởng đồng ý nên đi xe mô tô xuống khu vực đường bê tông khu phố T, thị trấn K tìm mua ma túy cho Luật. Thưởng gặp 03 thanh niên đang đứng nói chuyện ở gần gốc cây ven đường bê tông khu phố T, T tiến lại gần hỏi: “Anh ơi, ở đây có ai bán đồ không, lấy cho em mấy chỉ Ke” (ý hỏi mua ma túy loại Ketamine). Một thanh niên bảo có bán thì T nói: “để cho em 04 chỉ 04 viên, em gửi tiền luôn”. Thanh niên này nói: “đưa tiền đây” thì T hỏi: “Hàng đâu”. Thanh niên này lấy ma túy từ trong người ra gói vào 01 chiếc khẩu trang màu trắng đưa cho T và nói giá 4.500.000đ. Thưởng lấy 09 tờ tiền polime mệnh giá 500.000đ đưa cho thanh niên này và cầm chiếc khẩu trang quấn tròn quay về quán K3, đồng thời T nhắn tin ngay cho Luật báo giá ma túy là 5.000.000đ. Khi về quán, T gọi Hà Thị H2 là nhân viên của quán bảo xuống quầy lễ tân nhờ chút việc. Sau đó T cùng Nguyễn Thế H3 là nhân viên quản lý quán cùng lên kho trên tầng 03 lấy đệm kê vào phòng hát số 02, T gặp H2 đang đi từ nhà vệ sinh tầng 03 về phòng ngủ nên T đưa chiếc khẩu trang chứa ma túy bên trong cho H2 và bảo: “em cầm cái này đưa cho L1 hộ anh, xong bảo L1 vào phòng hỏi anh nào là anh L xong đưa cái này cho anh ấy”. Sau đó T và H3 tiếp tục bê thêm 02 đệm kê vào phòng hát số 02. Khi nhận khẩu trang từ Thưởng, H2 đã mở ra nên biết bên trong có ma túy và hiểu là mang vào phòng cho khách sử dụng. Khi vào phòng ngủ ở tầng 3, H2 đưa khẩu trang cho Triệu Thùy L1 (L1 không mở ra kiểm tra nên không biết bên trong có ma túy). Nguyễn Thế H3 bảo nhân viên nữ là Vàng Thị D1 bê 01 đĩa hoa quả và Bùi Thị Thu H mang 01 bình gas có gắn đầu khò lửa vào phòng 02. Khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Vĩnh D, Lê Mạnh T1, Đinh Hữu Đ1 và Đàm Quang L đến quán K3 và được Phạm Văn T hướng dẫn lên phòng 02 ở tầng 02 để hát và nói đã có sẵn đồ rồi. Khi nhóm của D lên phòng 02 thì có thêm 04 nhân viên nữ của quán gồm: Bùi Thị Thu H, Vàng Thị D1, Triệu Thùy L1 và Lê Mai Hồng Đ2 cùng vào phòng. Vào trong phòng, Triệu Thùy L1 đưa chiếc khẩu trang quấn tròn cho D rồi quay ra đi vệ sinh một lúc sau mới quay lại phòng. D nhận chiếc khẩu trang đặt ở bàn trong phòng khoảng 15 phút sau mở ra xác định bên trong có ma túy loại “Ke” và “Kẹo” nên lấy ma túy “Kẹo”ra mời các nhân viên nữ sử dụng nhưng các nhân viên này từ chối. D chia cho T1, Đ1 và Luật mỗi người một viên ma túy loại “Kẹo” để sử dụng. Một lúc sau, Lê Mai Hồng Đ2 không phục vụ phòng hát đi ra thì Lê Thị Kim T2 vào phục vụ thay. D lấy đĩa sứ đưa T2 bảo “xào K1” thì T2 lấy túi ma túy “Ke” đổ lên mặt đĩa tròn bằng sứ màu trắng và D sử dụng bình gas mini có gắn đầu khò lửa đốt phía dưới đáy đĩa sứ để T2 dùng 01 thẻ nhựa màu trắng, trên mặt có in hình mặt cười màu vàng có sẵn trong phòng để đảo “Ke”. Quá trình xào, Bùi Thị Thu H xuống tầng 01 bảo H3 đưa 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000₫ mang lên phòng cuốn thành ống hút hình trụ tròn, lồng vào bên trong vỏ giấy đầu lọc thuốc lá để tất cả sử dụng ma túy “Ke”. Khi T2 xào xong, D bê đĩa có ma túy đưa cho tất cả người có mặt trong phòng sử dụng rồi bê đĩa về đặt ở giữa đệm trong phòng cho người khác tiếp tục sử dụng. Sử dụng được một lúc thì Vàng Thị D1 không phục vụ đi ra để Đoàn Thị Kim T3 vào phòng phục vụ thay và cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 03 giờ 00' ngày 29/7/2024 trong lúc các đối tượng D, Luật, T1, Đ1, Kim T3, T2, Bùi Thị Thu H, Triệu Thùy L1 đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K phối hợp cùng Công an thị trấn K và Công an huyện K, tỉnh Hà Nam tiến hành kiểm tra quán karaoke V bắt quả tang và thu giữ niêm phong các vật chứng theo quy định, gồm:
- Thu trên mặt loa hình trụ, màu đen, kích thước (73x58x55)cm 01 đĩa sứ tròn màu trắng, đường kính 31cm, trên đĩa chứa chất màu trắng dạng bột, tiến hành dồn (gom) chất màu trắng dạng bột này vào 01 túi nilon màu trắng, viền miệng túi màu đỏ, kích thước (2,5x2,5)cm và niêm phong vào 01 phong bì dán kín, ký hiệu M1;
- Thu trên mặt loa, gần vị trí đĩa sứ tròn màu trắng 03 túi nilon màu trắng, viền miệng túi màu xanh, kích thước (2,5x2,5)cm, trên các túi này đều có các vết cắt, xé; bên trong các túi này đều bám dính chất màu trắng dạng bột cho vào 01 phong bì dán kín, ký hiệu M2;
- Thu giữ đĩa sứ màu trắng nêu trên sau khi gom chất màu trắng dạng bột; 02 thẻ nhựa màu trắng, trên mặt thẻ có hình mặt cười màu vàng, đều có kích thước (8,5x5)cm, trên bề mặt thẻ đều bám dính chất màu trắng dạng bột và 01 ống hút hình trụ tròn dài 13cm được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ được lồng vào bên trong vỏ giấy đầu lọc thuốc lá, bên trong ống hút có bám dính chất màu trắng dạng bột cho vào 01 thùng carton dán kín, ký hiệu là M3;
- 01 khẩu trang đã qua sử dụng; 01 bình gas mini đã qua sử dụng và 01 đầu khò lửa bằng kim loại gắn vào bình gas mini đã qua sử dụng; 01 đầu ghi hình camera nhãn hiệu Dahua, loại: DH-XVR1B08-I, S/N: 8F08546PAZ2AE36 đã qua sử dụng; 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha số máy: G3D4E133359, số khung: RLCUG0610FY120746 gắn BKS: 89E1-692.12; 04 điện thoại di động đã qua sử dụng gồm: điện thoại di động Iphone 12 promax màu vàng của Đàm Quang L; điện thoại di động Iphone 8 plus màu hồng của Nguyễn Vĩnh D; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax của Lê Mạnh T1; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax vỏ màu trắng của Đinh Hữu Đ1; 01 xe ôtô nhãn hiệu FORD RANGER, gắn BKS: 14C-314.06.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K trích xuất camera lắp đặt tại khu vực quầy lễ tân của quán K3 xác định diễn biến hành vi của Nguyễn Thế H3 cùng một số đối tượng vào tối ngày 28/7/2024.
Ngày 29/7/2024 Hà Thị H2 là nhân viên phục vụ phòng hát của quán K3 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đầu thú khai nhận hành vi của mình.
Ngày 29/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 448 và 449/LKXKC đối với quán K3 và nơi ở của Phạm Văn T ở khu phố T, thị trấn K, huyện K. Kết quả: không phát hiện thu giữ đồ vật tài sản gì liên quan.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tiến hành test nhanh tìm chất ma túy có trong nước tiểu của Nguyễn Vĩnh D, Lê Mạnh T1, Đinh Hữu Đ1, Đàm Quang L, Hà Thị H2, Đoàn Thị Kim T3, Triệu Thùy L1, Lê Thị Kim T2, Lê Mai Hồng Đ2 và Bùi Thị Thu H. Kết quả: Bùi Thị Thu H, Lê Mạnh T1, Nguyễn Vĩnh D, Đoàn Thị Kim T3, Hà Thị H2 dương tính với ma túy loại Methamphetamine, Ketamine và MDMA; Lê Thị Kim T2, Triệu Thùy L1, Vàng Thị D1 dương tính với ma túy loại Ketamine; Đàm Quang L dương tính với ma túy loại Methamphetamine và MDMA.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã ra Quyết định trưng cầu giám định chất đã thu giữ tại phòng hát số 02 tầng 02 quán K3, giám định hình ảnh video đối với các file video trích xuất từ camera của quán K3.
Bản giám định số 523/MT-PC09 ngày 01/8/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh H kết luận:
- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có khối lượng là 0,031g, là ma túy, loại Ketamine;
- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong 03 vỏ túi nilon trong niêm phong ghi ký hiệu M2, không xác định được khối lượng, là ma túy, loại Ketamine;
- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong 01 đĩa sứ, 02 thẻ nhựa, 01 ống hút trong niêm phong ghi ký hiệu M3, không xác định được khối lượng, là ma túy, loại Ketamine.
Bản giám định số 313/K1-KTHS(KTS) ngày 26/10/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh H kết luận:
- Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file video gửi giám định. Cắt, trích sao các hình ảnh rõ nét nhất mô tả đặc điểm, hành động của nam thanh niên mặc áo phông màu đen, có hoa văn màu trắng và có hoa văn hình chiếc kéo trên lưng áo trong đoạn file video XVR_ch1_main_20240728215000_20240728220000, thời gian từ 21 giờ 57 phút đến 21 giờ 58 phút.
- Cắt, trích sao các hình ảnh rõ nét nhất mô tả đặc điểm, hành động của nam thanh niên mặc áo phông màu đen, có hoa văn màu trắng và có hoa văn hình chiếc kéo trên lưng áo trong đoạn file video XVR_ch1_main_20240728220000_20240728230000, thời gian từ 22 giờ 04 phút 30 giây đến 22 giờ 05 phút 30 giây.
Quá trình điều tra Nguyễn Thế H3 khai nhận: Hàng ngày H3 nhận ca quản lý quán từ 19 giờ đến khi hết khách. Khoảng 20 giờ ngày 28/7/2024 T đến quán hỗ trợ H3 cùng quản lý. Khoảng 21 giờ Thưởng cùng H3 lên kho trên tầng 03 bê 04 tấm đệm mang xuống kê ở phòng số 02, lúc này H3 biết khách đến thuê phòng hát để sử dụng ma túy. Đến khoảng 22 giờ có 04 người khách nam đã đặt phòng qua Thưởng đến quán và được T hướng dẫn lên phòng số 02 ở tầng 02. Thưởng nhắn tin vào nhóm nhân viên quán trên ứng dụng Messenger yêu cầu 04 nữ nhân viên ở quán trang điểm để xuống tiếp khách. Sau đó, có 1 nhân viên nữ cầm 1 đĩa sứ lên thì H3 biết đây là chuẩn bị cho khách bay lắc, do H3 đã từng làm quản lý quán Venus nên có khách đến tổ chức sử dụng ma túy trong phòng thì H3 đều biết. Sau khi khách vào phòng một lúc, Bùi Thị Thu H xuống quầy gặp H3 bảo xin 10.000đ, H3 đã lấy từ túi quần 01 tờ tiền 10.000đ đưa cho H rồi H lại đi lên tầng. Thưởng ở lại quán đến khoảng 23 giờ thì đi về và bảo H3 hạ cửa cuốn của quán xuống, H3 hiểu hạ cửa xuống để an toàn tránh lực lượng Công an phát hiện. H3 khai nhận tính tiền phòng cho khách là 200.000đ một giờ khách hát thường, còn khách sử dụng ma túy trong phòng sẽ tính 400.000₫ một giờ.
Đến ngày 10/9/2024, H3 thay đổi lời khai và cho rằng không biết việc các đối tượng sử dụng ma túy trong phòng hát số 02 tầng 02 quán Venus tối ngày 28/7/2024. Bị cáo T chỉ khai nhận việc bán 04 chỉ ma túy loại Ketamine và 04 viên ma túy loại kẹo với giá tiền 5.000.000đ cho Luật mà không thừa nhận việc chuẩn bị phòng hát số 02 tầng 02 tại quán K3 vào tối 28/7/2024 cho nhóm D, Luật sử dụng ma túy. Chiếc xe mô tô T sử dụng để đi mua ma túy tối ngày 28/7/2024 T khai mượn của một người bạn xã hội tên là H4 nhưng sau đó T đã trả lại, T không biết biển số xe và cũng không biết H4 ở địa chỉ cụ thể nào nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh. Đối với chiếc điện thoại di động T dùng để liên lạc với Luật tối ngày 28/7/2024, T khai hôm sau đã nhờ người không rõ tên ở bệnh viện bán hộ khi T đưa vợ lên Hà Nội khám.
Về vật chứng:
- Đối với xe ôtô nhãn hiệu FORD RANGER gắn BKS: 14C-314.06, quá trình điều tra xác định: Xe ôtô đăng ký tên Vũ Văn M1 sinh năm 1994 ở khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh (là người cùng làm công ty với Lê Mạnh T1 tại Thành phố Hải Phòng). Ngày 28/7/2024 T1 mượn chiếc xe trên của anh M1 để về quê ở tỉnh Lạng Sơn ăn cỗ, anh M1 không biết T1 đã đi về huyện K tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe ô tô này không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng nên Cơ quan điều tra Công an huyện K đã trả xe cho anh M1.
- Xe môtô nhãn hiệu Yamaha gắn biển số 89E1-692.12 xác định thuộc sở hữu của Đàm Quang L, Cơ quan điều tra Công an huyện K đã nhập kho vật chứng chờ xử lý cùng 01 mẫu hoàn lại niêm phong ghi số 523/KL-KTHS (MT), bên trong có 0,026g ma túy Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 03 vỏ túi nilon trong niêm phong ghi ký hiệu M2; 01 đĩa sứ, 02 thẻ nhựa, 01 ống hút được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 VNĐ trong niêm phong ghi ký hiệu M3; 01 vỏ túi nilon đựng ma túy và 03 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 khẩu trang đã qua sử dụng; 01 bình gas mini đã qua sử dụng và 01 đầu khò lửa bằng kim loại gắn vào bình gas mini; 01 đầu ghi hình camera nhãn hiệu Dahua đã qua sử dụng; 04 điện thoại di động.
Đối với quán K3, quá trình điều tra xác định: Quán đăng ký kinh doanh tên ông Phạm Văn G. Ông G không trực tiếp quản lý hoạt động kinh doanh mà giao con trai là Phạm Văn T4 quản lý kinh doanh. Anh T4 thuê Phạm Văn T và Nguyễn Thế H3 quản lý kinh doanh của quán. Ông G và anh T4 không biết việc T và H3 cho khách sử dụng ma túy trong phòng hát của quán.
Cáo trạng số: 23/CT-VKSKC ngày 19/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251; điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thế H3, Nguyễn Vĩnh D, Đàm Quang L, Lê Mạnh T1, Đinh Hữu Đ1, Bùi Thị Thu H, Hà Thị H2, Lê Thị Kim T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại bản án sơ thẩm số 38/2025/HSST ngày 27/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
-
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Điều 38; khoản 1 điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T.
- Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Vĩnh D, Đàm Quang L, Lê Mạnh T1, Đinh Hữu Đ1, Nguyễn Thế H3 và Bùi Thị Thu H.
- Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hà Thị H2 và Lê Thị Kim T2.
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Nguyễn Vĩnh D, Đàm Quang L, Lê Mạnh T1, Đinh Hữu Đ1, Nguyễn Thế H3, Bùi Thị Thu H, Hà Thị H2 và Lê Thị Kim T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
-
Mức hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành 02 tội danh là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H3 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành bản án này.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Vĩnh D, Đàm Quang L và Lê Mạnh T1 mỗi bị cáo là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2024.
- Xử phạt bị cáo Đinh Hữu Đ1, Bùi Thị Thu H, Hà Thị H2 và Lê Thị Kim T2 mỗi bị cáo 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2024.
Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/4/2025, bị cáo Phạm Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 08/4/2025, bị cáo Bùi Thị Thu H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Phạm Văn T, Bùi Thị Thu H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Văn T về 2 tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251; điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; xét xử Bùi Thị Thu H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo H xuất trình thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bố đẻ là ông Bùi Công K2 có xác nhận của chính quyền địa phương; Bản sao Huân chương kháng chiến hạng ba của ông ngoại là Huân Vi H5, Huy chương kháng chiến hạng nhất của bà Lang Thị S, Huy chương kháng chiến hạng nhì của ông nội là Bùi Công B. Đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo T không có tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của Thưởng; chấp nhận kháng cáo của bị cáo H; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HSST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, giảm một phần hình phạt cho Hiền từ 2 đến 3 tháng tù. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T, Bùi Thị Thu H trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
-
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn T, Bùi Thị Thu H tại phiên tòa phúc thẩm hoàn toàn phù hợp lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trước cơ quan điều tra. Phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và phù hợp với lời khai của những người liên quan, người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 21 giờ ngày 28/7/2024, tại quán K3 ở khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Phạm Văn T đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Đàm Quang L, đồng thời T cùng Nguyễn Thế H3 kê đệm, chuẩn bị phòng hát cho Nguyễn Vĩnh D, Đàm Quang L, Lê Mạnh T1, Đinh Hữu Đ1, Bùi Thị Thu H và Lê Thị Kim T2 cũng một số đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma tuý, trong đó có Đoàn Thị Kim T3 sinh ngày 15/10/2008. Hà Thị H2 biết rõ là ma túy nhưng vẫn đồng ý nhận gói ma túy từ T để đưa cho Triệu Thùy L1 mang vào phòng hát cho nhóm của D sử dụng. Bùi Thị Thu H là người đi lấy tờ 10.000 đồng từ Nguyễn Thế H3 để làm công cụ sử dụng ma túy. Đến khoảng 03h ngày 29/7/2024, trong lúc các đối tượng sử dụng ma túy tại phòng hát số 02 tầng 02 quán K3 thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Phạm Văn T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251; điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thế H3, Nguyễn Vĩnh D, Đàm Quang L, Lê Mạnh T1, Đinh Hữu Đ1, Bùi Thị Thu H, Hà Thị H2 và Lê Thị Kim T2 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu đã xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng nêu trên là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.
-
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của hai bị cáo thì thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội; là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác nên cần phải xử lý nghiêm.
Đối với bị cáo T: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo; áp dụng đầy đủ, chính xác các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo T thành khẩn khai nhận và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn và có con nhỏ mới sinh được 3 tháng tuổi. Vợ bị cáo là chị Lê Thị M có mặt tại phiên tòa xác nhận sự việc đồng thời đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho T. Để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với xã hội để có điều kiện chăm sóc gia đình, Hội đồng xét xử sẽ giảm một phần hình phạt cho T đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đối với bị cáo H: Mức hình phạt 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, không nặng. Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo H xuất trình thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bố đẻ là ông Bùi Công K2 có xác nhận của chính quyền địa phương; Bản sao Huân chương kháng chiến hạng ba của ông ngoại là Huân Vi H5, Huy chương kháng chiến hạng nhất của bà ngoại là Lang Thị S. Đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo là người dân tộc Thái, tuổi đời còn rất trẻ, có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận kháng cáo của bị cáo H để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T và Bùi Thị Thu H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 343; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T và Bùi Thị Thu H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HSST ngày 27/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên như sau:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Điều 38; khoản 1 điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T.
- Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Thị Thu H.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành 02 tội danh là 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2024.
- Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thu H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2024.
- Án phí: Các bị cáo Phạm Văn T, Bùi Thị Thu H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Phạm Trung Thực |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thị Hương Hoàng Tuấn Trọng | Phạm Trung Thực |
Bản án số 29/2025/HS-PT ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 29/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: pvt
