|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/HNGĐST
Ngày 11-4-2025
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Động
- Ông Trương Văn Sắc
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trùng Dương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 338/2025/TLST–HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST–HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N – sinh năm 1982
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
Tạm trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
(Có mặt tại phiên tòa)
* Bị đơn: Anh Bùi Văn T – sinh năm 1986
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
(Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị N và anh Bùi Văn T chung sống với nhau vào năm 2003, vợ chồng không có đăng ký kết hôn, vợ chồng không có tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương. Trước khi cưới, vợ chồng có tìm hiểu nhau trước khoảng 01 năm mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.
Quá trình chung sống đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không lo làm ăn, không quan tâm vợ con và hai vợ chồng thường hay bất đồng ý kiến trong cuộc sống hàng ngày.
Về con chung: Chị N xác nhận vợ chồng có chung sống với nhau được 02 người con chung là Bùi Thị Ngọc H – sinh ngày 22/10/2004 và Bùi Thị Ngọc H1 – sinh ngày 07/05/2012. Hiện các cháu đã có giấy khai sinh và sống chung với chị N.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác nhận không có.
Tại phiên tòa chị N yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Chị N yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn T1.
Về con chung: Chị N yêu cầu được nuôi con tên Bùi Thị Ngọc H1- sinh ngày 07/05/2012, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Bùi Thị Ngọc H – sinh ngày 22/10/2004 đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo bản tự khai và các lời khai tại Tòa án, bị đơn anh Bùi Văn T trình bày: Anh T thống nhất với lời trình bày của chị N về năm chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn, vợ chồng không đăng ký kết hôn, có 02 người con chung, không có tài sản chung, nợ chung là đúng.
Nay anh T yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Anh T đồng ý ly hôn với chị N.
Về con chung: Anh T đồng ý giao con tên Bùi Thị Ngọc H1– sinh ngày 07/05/2012 cho chị N tiếp tục nuôi, anh T không cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Bùi Thị Ngọc H – sinh ngày 22/10/2004 đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
+ Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
+ Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N.
+ Về quan hệ con chung: Đề nghị tiếp tục giao cháu Bùi Thị Ngọc H1– sinh ngày 07/05/2012 cho chị N tiếp tục nuôi, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Bùi Thị Ngọc H – sinh ngày 22/10/2004 đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh T được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Anh T, chị N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị miễn xét.
+ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị N phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp.
Bị đơn anh Bùi Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng tại phiên tòa hôm nay anh T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Ngoài ra, tại phiên tòa chị N yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T nên Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt anh Bùi Văn T.
Xét yêu cầu xin ly hôn, nuôi con của chị Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T.
Chị N và anh T chung sống với nhau vào 2003, không đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân không hợp pháp.
Tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
“Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
[2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng chung sống với nhau được 02 người con chung là Bùi Thị Ngọc H – sinh ngày 22/10/2004 và Bùi Thị Ngọc H1 – sinh ngày 07/05/2012. Theo biên bản tiếp xúc, ghi nhận nguyện vọng cháu H1 thì nguyện vọng của cháu được ở với mẹ là chị N nên chị N, anh T thỏa thuận giao cháu Bùi Thị Ngọc H1 – sinh ngày 07/05/2012 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N, anh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên hội đồng xét xử miễn xét.
[4] Từ những nhận định trên, căn cứ vào Điều 9, 14, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị N.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 175, Điều 177, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9 và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị N và anh Bùi Văn T là vợ chồng.
2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Bùi Thị Ngọc H1- sinh ngày 07/05/2012 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Bùi Thị Ngọc H – sinh ngày 22/10/2004 đã đủ tuổi trưởng thành, anh T chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh T được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung. Không ai được quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N, anh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và cấp dưỡng: Chị N phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007148, ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn anh Bùi Văn T có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Minh Đạo |
Bản án số 29/2025/HNGĐST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn
- Số bản án: 29/2025/HNGĐST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Nguyễn Thị N - Bùi Văn T
