trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30 - 6 - 2025

V/v “Ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Kim Phượng

2. Ông Phạm Ngọc Lợi

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Quỳnh Anh – Thư ký, Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 51/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1994

Địa chỉ: Số A, ngõ A, đường T, thôn Đ, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.

2. Bị đơn: Chị Đinh Thị Ánh T1, sinh năm 1993

Địa chỉ: Số A, ngõ A, đường T, thôn Đ, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa có mặt: Anh T, chị T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Anh và chị Đinh Thị Ánh T1 được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 08/2/2017 tại UBND xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc, đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng qua điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế. Chị T1 không tin tưởng và thiếu tôn trọng anh, vợ chồng anh đã sống ly thân, anh xác định không còn tình cảm với chị T1, anh đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với chị T1.

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn chị Đinh Thị Ánh T1 trình bày:

Chị và anh T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 08/2/2017 tại UBND xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nguyên nhân do anh T không chung thủy, không quan tâm đến vợ con. Sau khi vợ chồng ly thân, anh T chu cấp cho vợ con không đầy đủ. Chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nhưng anh chị chưa thống nhất thoả thuận rõ ràng về tài sản nên chị không nhất trí ly hôn.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Đinh Thị Ánh T1 xác định có hai con chung là cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 23/01/2018 và cháu Nguyễn Ánh Kim N, sinh ngày 26/4/2020. Nếu Toà án giải quyết ly hôn anh chị T1 xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai cháu đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh T nhất trí giao hai con chung cho chị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng cho con: Anh Nguyễn Văn T và chị Đinh Thị Ánh T1 thoả thuận anh T cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T1 theo phương thức định kỳ hằng tháng số tiền 5.000.000đ/tháng/2 cháu, kể từ tháng 6 năm 2025 đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 14/5/2025, anh T vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Chị T1 không có yêu cầu phản tố.

Tại biên bản xác minh ngày 22 tháng 5 năm 2025 chính quyền địa phương cung cấp: Anh Nguyễn Văn T và chị Đinh Thị Ánh T1 kết hôn, sinh sống tại thôn Đ, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Theo phản ánh của người dân, năm 2023, anh T chị T1 phát sinh mâu thuẫn, có cãi vã, va chạm. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, kinh tế, tình cảm. Anh T, chị T1 ly thân hơn một năm, không còn quan tâm đến nhau. Vợ chồng có hai con chung, hiện nay do chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng.

Ngày 27/5/2025, chị T1 nộp đơn đề nghị Tòa án bác đơn xin ly hôn của anh T vì muốn các con có sự chăm sóc, yêu thương của cả bố và mẹ, mong muốn anh T về nhà dạy dỗ, gần gũi với con hơn và chị T1 vẫn còn tình cảm với anh T; chị muốn Tòa án giải quyết về tài sản và nợ chung của vợ chồng trong vụ án.

Tại phiên toà: Anh T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX xem xét giải quyết cho anh ly hôn với chị T1. Anh nhất trí giao 2 con chung cho chị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng, anh có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T1, 5.000.000 đồng/2 cháu/tháng. Nếu chị T1 đồng ý để anh T nuôi con thì anh T nhận trực tiếp nuôi con 2 con chung và yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 500.000đ/1 cháu/1 tháng đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Chị T1 trình bày: Chị T1 không đồng ý ly hôn vì mong muốn vợ chồng đoàn tụ vì con. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, chị đồng ý giao 2 con chung cho anh T trực tiếp nuôi và cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của anh T.

Anh Nguyễn Văn T và chị Đinh Thị Ánh T1 thống nhất thỏa thuận: Anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Minh H sinh ngày 23/01/2018 và cháu Nguyễn Ánh Kim N sinh ngày 26/4/2020. Chị T1 cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng 500.000đ/1 cháu/1 tháng đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng người tham gia tố tụng, xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định của pháp luật. Tiến hành việc thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX), thư ký đã tuân thủ theo đúng trình tự phiên tòa Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS).

Thẩm phán đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 208, 209, 210, 211 BLTTDS.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 147 BLTTDS, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anhNguyễn Văn T và chị Đinh Thị Ánh T1.

- Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giao cháu Nguyễn Minh H sinh ngày 23/01/2018 và cháu Nguyễn Ánh Kim N sinh ngày 26/4/2020 cho anh Nguyễn Văn T tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị Đinh Thị Ánh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ hàng tháng 500.000 đồng/1cháu/1tháng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị T1 có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở và không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh T. Khi cần thiết, anh T, chị T1 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về án phí:

Anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000609 ngày 18/03/2025 tại Chi cục THADS thành phố N (nay là thành phố H).

Chị Đinh Thị Ánh T1 phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Anh T khởi kiện đối với bị đơn là chị Đinh Thị Ánh T1 có địa chỉ tại xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Do đó, xác định đây là quan hệ tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

Ngày 27/5/2025, chị T1 nộp đơn đề nghị đề ngày 26/5/2025 yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung, yêu cầu của chị đưa ra sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và chị không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu về tài sản chung và nợ chung. Căn cứ khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án không thụ lý, giải quyết yêu cầu về tài sản chung và nợ chung của chị T1 trong vụ án này.

[3] Xét nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Đinh Thị Ánh T1 được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình ngày 08/02/1017. Hôn nhân giữa anh T, chị T1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Anh Nguyễn Văn T và chị Đinh Thị Ánh T1 đều xác định sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân của anh chị thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, anh chị đã sống ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh chị không còn quan tâm và thực hiện nghĩ vụ vợ chồng với nhau. Năm 2024 anh T đã nộp đơn xin ly hôn tại Toà án, sau đó Toà án đình chỉ giải quyết vụ án do nguyên đơn không đến toà làm việc theo giấy triệu tập. Kể từ đó anh T chị T1 không có biện pháp gì khắc phục mâu thuẫn vợ chồng để vợ chồng đoàn tụ gia đình, anh chị vẫn sống ly thân, anh T xác định không còn tình cảm với chị T1. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh T, chị T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị T1 là phù hợp với khoản 1, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung: Anh T, chị T1 xác định có hai con chung là cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 23/01/2018 và cháu Nguyễn Ánh Kim N, sinh ngày 26/4/2020.

Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn T và chị Đinh Thị Ánh T1 thống nhất thỏa thuận: Anh Nguyễn Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là các cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 23/01/2018 và cháu Nguyễn Ánh Kim N, sinh ngày 26/4/2020; Chị Đinh Thị Ánh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo phương thức định kỳ hằng tháng là 500.000 đồng/1cháu/1tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Cần công nhận sự thoả thuận về nuôi con chung và cấp dưỡng tiền cho con của anh T, chị T1.

[3.3] Về tài sản chung và công nợ chung:

Anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án.

Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đinh Thị Ánh T1 phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84, 107, 110 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4, Điều 147; Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 357 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ điểm a, khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với chị Đinh Thị Ánh T1.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Đinh Thị Ánh T1.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau:

2.1. Anh Nguyễn Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 23/01/2018 và cháu Nguyễn Ánh Kim N, sinh ngày 26/4/2020, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Chị Đinh Thị Ánh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Đinh Thị Ánh T1 thực hiện quyền này. Khi cần các bên có thể thay đổi việc nuôi con chung.

2.2. Về cấp dưỡng tiền cho con: Chị Đinh Thị Ánh T1 có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn T theo phương thức định kỳ hàng tháng số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng)/01tháng/2cháu (500.000 đồng/1 cháu), kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày anh Nguyễn Văn T có đơn yêu cầu thi hành án, mà chị Đinh Thị Ánh T1 không thi hành án khoản tiền cấp dưỡng thì hàng tháng chị Đinh Thị Ánh T1 phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án, lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Điều 357; khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền trên được trừ vào số tiền anh T đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000609 ngày 18 tháng 3 năm 2025.

Án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc chị Đinh Thị Ánh T1 phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm anh Nguyễn Văn T và chị Đinh Thị Ánh T1 có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSNDTP. Hoa Lư;
  • - Chi cục THADSTP.Hoa Lư;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Ninh Nhất;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH về ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Văn T xin ly hôn chị Đinh Thị Ánh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger