|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 6 năm 2025 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Gia Thắng và bà Nguyễn Thị Kim Trình.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đinh Trọng Nho - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 70/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24/6/2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Phan Thúy N, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Khu Q, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Trần Quang S, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Khu Q, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - chị Phan Thúy N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị N kết hôn với anh Trần Quang S năm 2005, khi kết hôn có tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc. Khoảng 10 năm trở lại đây thì vợ chồng anh chị xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống và về kinh tế gia đình, vợ chồng không nhường nhịn, chia sẻ nên hay xảy ra cãi vã, anh S đã đánh chửi xúc phạm chị nhiều lần, chị N và gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh S không thay đổi. Chị N đã nộp đơn đến Toà án hai lần nhưng sau đó rút đơn về vì thương các con nhưng hiện nay cuộc sống nặng nề, vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau nữa, không thể duy trì mối quan hệ hôn nhân với anh S nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh S.
Về con chung: Chị N và anh S có 04 con chung gồm: Cháu Trần Thanh T, sinh ngày 05/9/2006, cháu Trần Thanh H, sinh ngày 08/11/2008, cháu Trần Bảo N1, sinh ngày 08/8/2017 và cháu Trần Quang H1, sinh ngày 09/5/2012. Khi ly hôn đối với cháu T đã thành niên nên chị không có yêu cầu gì, còn cháu H, cháu N1, cháu H1 hiện đang chung sống cùng chị nên chị N xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu và chị không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Từ khi anh chị ly thân một mình chị vẫn tự chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu, anh S không quan tâm gì. Hiện chị đang sống cùng con tại căn nhà 02 tầng của vợ chồng anh chị, chị đi làm thuê cũng đủ chăm sóc, nuôi dưỡng các con.
Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
[2]. Về phía Bị đơn - anh Trần Quang S: Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng anh S đều vắng mặt. Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của mẹ đẻ anh Trần Quang S là bà Bùi Thị N2 để tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa anh S và chị N. Tại biên bản lấy lời khai bà Bùi Thị N2 (mẹ đẻ anh S) cho biết:
Bà Bùi Thị N2 là mẹ đẻ của anh Trần Quang S. Vào năm 2005 chị N và anh S kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng anh S, chị N chung sống cùng gia đình bà tại khu Q, xã C, được một thời gian thì anh chị ra ở riêng gần nhà bà. Cuộc sống vợ chồng chị N, anh S theo bà được biết thì hoà thuận hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, bất đồng. Nguyên nhân do anh S hay chơi bời, không chăm lo đến gia đình, vợ con. Mới đây anh S có bị TAND huyện Thanh Thuỷ xử về hành vi đánh bạc. Nay chị N yêu cầu ly hôn anh S, quan điểm của bà là việc chung sống được với nhau hay không là do anh chị tự quyết định. Bà N2 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng anh S, chị N có 04 con chung là các cháu Trần Thanh T, sinh năm 2006, cháu Trần Thanh H, sinh năm 2008, cháu Trần Bảo N1, sinh năm 2017 và cháu Trần Quang H1, sinh năm 2012. Hiện nay cháu T đã lớn, đi học xa nhà, còn cháu H, cháu N1, cháu H1 đang ở cùng với chị N. Việc các cháu ở với ai thì do các cháu tự quyết định vì các cháu đã lớn. Hiện nay chị N đang ở trong căn nhà cạnh nhà bà, còn anh S thì thường xuyên đi vắng, ít khi về thăm gia đình.
Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Bà N2 không có ý kiến gì.
Về việc anh S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án: Bà đã nhận giấy báo, giấy triệu tập của Tòa án thay cho anh S và báo lại cho anh S được biết. Còn việc anh S có đến Toà án làm việc không thì bà không nắm được.
[3]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Việc nhận đơn, thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn nhiều lần vắng mặt không có lý do nên đây là vụ án không tiến hành hòa giải được, do đó Thẩm phán quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp. Thẩm phán đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho Nguyên đơn, Bị đơn theo đúng khoản 1 Điều 175, khoản 1,2,5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N. Cho chị Phan Thúy N được ly hôn anh Trần Quang S.
Về con chung: Chị N và anh S có 04 con chung gồm: Cháu Trần Thanh T, sinh ngày 05/9/2006, cháu Trần Thanh H, sinh ngày 08/11/2008, cháu Trần Bảo N1, sinh ngày 08/8/2017 và cháu Trần Quang H1, sinh ngày 09/5/2012. Hiện cháu T đã thành niên nên cả anh S và chị N có trách nhiệm với cháu. Đối với các cháu Trần Thanh H, cháu Trần Bảo N1 và cháu Trần Quang H1 hiện đang ở cùng chị N, anh S thường xuyên đi vắng, không quan tâm gì đến các con. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn và nhân gia đình, giao cháu Trần Thanh H, cháu Trần Bảo N1 và cháu Trần Quang H1 cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không yêu cầu.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị N không yêu cầu giải quyết, anh S vắng mặt không có quan điểm trình bày nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự: Chị Phan Thúy N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiên phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Phan Thúy N có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ cho chị được ly hôn với anh Trần Quang S; trú tại: Khu Q, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn anh Trần Quang S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên đây là vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh S vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị N, anh S theo đúng khoản 1 Điều 175 và khoản 1,2,5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị N, anh S trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Năm 2005, hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, chị N cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc. Khoảng 10 năm trở lại đây thì vợ chồng anh chị xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống và về kinh tế gia đình, vợ chồng không nhường nhịn, chia sẻ nên hay xảy ra cãi vã, anh S đã đánh chửi xúc phạm chị nhiều lần, chị N và gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh S không thay đổi. Chị N đã nộp đơn đến Toà án hai lần nhưng sau đó rút đơn về vì thương các con nhưng hiện nay cuộc sống nặng nề, vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau nữa, không thể duy trì mối quan hệ hôn nhân với anh S. Xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh S nên chị xin ly hôn để giải phóng cho nhau. Phía anh S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có quan điểm trình bày.
Để thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị N và anh S, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của mẹ đẻ anh S là bà Bùi Thị N2 và xác minh tại UBND xã C cũng như tại khu dân cư thấy rằng: Lời trình bày của chị N về tình trạng hôn nhân giữa chị và anh S là đúng, vợ chồng anh chị xảy ra cãi vã, hiện không chung sống cùng nhau. Hiện nay chị N và 03 con sống cùng nhau trong căn nhà hai tầng kiên cố tại xóm Q, xã C. Anh S không chung sống cùng mẹ con chị N. Bản thân chị N làm nghề tự do để nuôi các con.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh S đã đến mức trầm trọng, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân thực tế không còn tồn tại. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh S là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3].Về con chung: Chị N và anh S có 04 con chung gồm: Cháu Trần Thanh T, sinh ngày 05/9/2006, cháu Trần Thanh H, sinh ngày 08/11/2008, cháu Trần Bảo N1, sinh ngày 08/8/2017 và cháu Trần Quang H1, sinh ngày 09/5/2012.
Khi vợ chồng ly hôn, chị N đề nghị: Đối với cháu T đã thành niên nên anh chị cùng có trách nhiệm với cháu, chị N xin được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H, cháu N1, cháu H1 đến khi các cháu thành niên. Chị không đề nghị anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Xét thấy, hiện nay cháu T đã thành niên, còn cháu H, cháu N1, cháu H1 hiện đang ở cùng với chị N. Tại các bản tự khai, nguyện vọng của các cháu đều xin được ở cùng mẹ. Anh S không đến Toà án để trình bày quan điểm, mẹ đẻ anh S là bà Bùi Thị N2 đề nghị các cháu đã lớn nên tôn trọng nguyện vọng của các cháu, ở với ai do các cháu quyết định. Ngoài ra, phía gia đình anh S và đại diện địa phương đã cung cấp thông tin cho Tòa án được biết anh S thường xuyên đi vắng, thỉnh thoảng mới về thăm nhà. Tháng 4/2025, anh S bị TAND huyện Thanh Thuỷ xử về tội đánh bạc. Chị N một mình nuôi các cháu ăn học đầy đủ. Các cháu ở cùng chị N trong ngôi nhà riêng của anh S, chị N là nhà hai tầng, kiên cố.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với cháu Trần Thanh T, sinh ngày 05/9/2006 hiện nay đã thành niên nên chị N và anh S cùng có trách nhiệm với cháu. Đối với cháu Trần Thanh H, sinh ngày 08/11/2008, cháu Trần Bảo N1, sinh ngày 08/8/2017 và cháu Trần Quang H1, sinh ngày 09/5/2012 giao cho chị N tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu thành niên là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N tự nguyện không yêu cầu.
[4]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị N không yêu cầu giải quyết và anh S vắng mặt không có quan điểm trình bày nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí: Chị Phan Thúy N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[6].Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7]. Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 1, 2 Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thúy N đối với anh Trần Quang S. Xử cho chị Phan Thúy N được ly hôn anh Trần Quang S.
2.2. Về con chung:
Cháu Trần Thanh T, sinh ngày 05/9/2006 hiện nay đã thành niên nên chị N và anh S cùng có trách nhiệm với cháu.
Giao cho chị Phan Thúy N tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Thanh H, sinh ngày 08/11/2008, cháu Trần Bảo N1, sinh ngày 08/8/2017 và cháu Trần Quang H1, sinh ngày 09/5/2012 đến khi các cháu thành niên. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T1 tự nguyện không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
3. Về án phí: Chị Phan Thúy N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị N đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo Biên lai thu số 0001914 ngày 31/3/2025. Nay được chuyển thành án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị N, anh S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
5. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Duyên Hòa |
Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
