|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25/02/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Ông Phan Anh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 2927/2024/TLST – HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/01/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 2002.
Địa chỉ thường trú: ấp T, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ tạm trú hiện nay: Tổ F, Khu phố L, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Điện thoại: 0347.033.xxx
- Bị đơn: Ông Dương Trùng D, sinh năm 2001
Địa chỉ thường trú: ấp T, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ tạm trú: Tổ A, Khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Điện thoại: 0838.664.xxx.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai tại quá trình làm việc; biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và chồng là ông Dương Trùng D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 07/2021 ngày 08/02/2021. Quá trình chung sống hai vợ chồng chỉ hạnh phúc được một thời gian đầu. Nhưng sau đó do khác biệt nhiều về quan điểm sống, chồng ham chơi, thường xuyên tụ tập bạn bè, không giảnh thời gian quan tâm đến vợ con. Khi được bà S và gia đình hai bên khuyên giải thì ông D không những không nghe mà còn có hành vi bạo lực với bà và con, có lời lẽ xúc phạm đến bà cùng gia đình bên vợ, có lời nói hăm dọa đến tính mạng sức khỏe làm bà luôn sống trong lo sợ. Vì không muốn hạnh phúc gia đình mới được xây dựng đã sớm đổ vỡ, nên nhiều lần bà đã cố gắng khuyên ngăn, nhờ thêm bố mẹ chồng khuyên giải nhưng ông D cũng không thay đổi mỗi khi hai vợ chồng cãi vã. Từ đó, tình cảm của bà với ông D cũng nhạt dẩn cho đến nay thì không còn tình cảm. Do lo sợ ông D sẽ có những hành vi không đúng mực với mình và con nên bà đã đưa con về nhà ngoại tại Sóc Trăng sinh sống, vợ chồng ly thân nhau gần một năm nay. Bà xác định, mâu thuẫn giữa bà và ông D chỉ gia đình nội ngoại biết chứ chưa được hòa giải tại địa phương do cả hai vợ chồng không khai báo, bà cũng khẳng định không muốn tiếp tục hòa giải vì tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà xin được giải quyết cho ly hôn với ông Dương Trùng D.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống; bà và ông Dương Trùng D có 01 con là cháu Dương Ngọc Như Ý, sinh ngày 06/7/2021. Từ khi ly thân đến nay, cháu Ý ở cùng với bà tại nhà ngoại. Hiện nay, do công việc, bà đã trở lại thành phố B để sinh sống, cháu Như Ý cũng được bà dẫn theo và cho đi học tại nhà trẻ tại thuộc phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Mọi chi phí sinh hoạt, nuôi dưỡng, chăm sóc con cả một năm nay đều do bà tự bỏ ra, ông D không chu cấp khoản nào. Bà yêu cầu được nuôi con vì trước đây, mỗi lần hai vợ chồng cãi vã, ngoài việc đánh bà, ông D còn quát mắng và đánh vào mặt con, để đảm bảo sự phát triển bình thường của con và do cháu Dương Ngọc Như Ý cũng còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của mẹ. Vì vậy, sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu Ý đến khi cháu trưởng thành đồng thời không cần ông D cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Hai bên không có, không yêu cầu Tòa án phải giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án phải giải quyết.
- Về án phí: Bà đồng ý tự nguyện chịu toàn bộ.
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai tại quá trình làm việc; biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Dương Trùng D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với ý kiến mà bà Nguyễn Thị S đã trình bày tại đơn khởi kiện về quá trình hai bên tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn và thời điểm đăng ký kết hôn. Ông xác định quá trình chung sống thì giữa hai vợ chồng cũng xảy ra xích mích, mâu thuẫn với nhau, trong lúc nóng giận bản thân ông không giữ được sự bình tĩnh đã có sử dụng bạo lực với bà S nhưng không gây ra thương tích cũng như không sử dụng hung khí gì. Hiện nay vợ chồng ông cũng đã ly thân, do bà S giận dỗi nên đã đưa con bỏ về nhà mẹ đẻ. Mâu thuẫn giữa ông và vợ cũng chỉ gia đình nội ngoại biết chứ chưa được hòa giải tại địa phương do cả hai vợ chồng không khai báo. Ông xác định tình cảm ông dành cho vợ con vẫn còn và khẳng định mâu thuẫn như bà S khai chỉ là mâu thuẫn vợ chồng bình thường như bao gia đình khác mà thôi. Ông mong được hòa giải để đoàn tụ gia đình chứ không muốn ly hôn. Tại phiên tòa, ông D thay đổi ý kiến, ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị S.
- Về con chung: Ông D xác định trong quá trình chung sống ông và bà Nguyễn Thị S có 01 con là cháu Dương Ngọc Như Ý, sinh ngày 06/7/2021; Hiện nay cháu Ý đã theo bà S về nhà ngoại sinh sống. Bản thân ông không muốn ly hôn nên cũng không đồng ý để bà S nuôi cháu Ý. Nếu phải giải quyết theo quy định thì ông cũng yêu cầu được giành quyền nuôi con; không yêu cầu vợ cấp dưỡng. Về điều kiện nuôi con ông cam kết đáp ứng được thời gian và kinh tế như bản tự khai đã trình bày. Tại phiên tòa, ông D đồng ý giao cháu Dương Ngọc Như Ý cho bà Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con theo nguyện vọng của bà S. Ông không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án phải giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án phải giải quyết.
- Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, nguyên đơn bà Nguyễn Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và con chung với ông Dương Trùng D, hiện đang cư trú và đăng ký tạm trú tại: Tổ A, Khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào quy định khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp Hôn nhân gia đình về “Tranh chấp ly hôn và con chung” thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
[1.2]. Về xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ.
- Về nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng cư trú của bị đơn: Do các đương sự thừa nhận với nhau về địa chỉ cư trú và mâu thuẫn vợ chồng đúng như đơn khởi kiện. Những lời trình bày của bà Nguyễn Thị S1 về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng được ông Dương Trùng D thừa nhận, không có ý kiến phản đối về lời trình bày đó. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây thuộc trường hợp những tài liệu, chứng cứ không cần phải chứng minh. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử mà không thực hiện việc xác minh về tình trạng hôn nhân cũng như xác minh về nơi cư trú của bị đơn để xác định thẩm quyền giải quyết.
[2] Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S và bị đơn là ông Dương Trùng D có đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 07/2021 ngày 08/02/2021. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn được cả hai xác nhận là do tính tình không hợp; thường xuyên bất đồng về lối sống nên vợ chồng xảy ra cãi vã, xung đột, đỉnh điểm là ông Dương Trùng D nhiều lần có hành vi bạo lực với bà S, mặc dù không gây ra thương tích nghiêm trọng nhưng lại chính là nguyên nhân làm rạn nứt tình cảm vợ chống về nhiều mặt, khó có thể hàn gắn, Mặc dù Tòa án hòa giải và để ông Dương Trùng D có thời gian thuyết phục hàn gắn nhưng qua thời gian của hai lần làm việc, bà Nguyễn Thị S vẫn nhất quyết ly hôn, không muốn hàn gắn. Hiện nay cả hai vợ chồng đã không còn chung sống quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bà Nguyễn Thị S xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn. Đối với ông Dương Trùng D thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, không muốn ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Qua nghiên cứu nội dung bản trình bày của các đương sự tại Tòa, qua hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy, vợ chồng bà S và ông D đã ly thân không chung sống với nhau, không quan tâm, thương yêu chăm sóc nhau, điều này là vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Mặt khác ông Dương Trùng D thừa nhận do còn trẻ, ham chơi nên thường xuyên đi chơi cùng bạn bè, để bà S và con ở nhà cô quạnh; khi cả hai cải vã thì ông Dương Trùng D ngoài dùng lời lẽ xúc phạm bà S còn có hành vi bạo lực với vợ con; chính điều này làm cho hôn nhân của cả hai vốn đã rạn nứt lại ngày càng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nhiều năm chung sống cùng nhau, về mặt kinh tế cả hai chỉ chia sẽ sinh hoạt phí chứ không có bất cứ tài sản hoặc đóng góp nào chung nào nhằm xây dựng cuộc sống gia đình lâu dài. Mặc dù ông D luôn khẳng định còn thương yêu vợ con nhưng kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay lại thừa nhận chưa một lần tìm về quê để mong hàn gắn, hoặc thể hiện thái độ, hành động để níu kéo hạnh phúc. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Dương Trùng D.
[2.2]. Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng bà S và ông D có 01 người con chung là cháu Dương Ngọc Như Ý, sinh ngày 06/7/2021. Mặc dù về điều kiện kinh tế để nuôi con cả hai vợ chồng đều cam kết đủ để nuôi con. Tuy nhiên, xét về mặt điều kiện tinh thần, từ khi ly thân đến nay, cháu Ý luôn ở với bà S và được bà S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, việc tiếp tục giao cháu Dương Ngọc Như Ý cho bà Nguyễn Thị S chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Ý trưởng thành là phù hợp. Mặt khác, yêu cầu này của bà S tại phiên tòa cũng đã được ông D chấp nhận.
[2.3]. Về cấp dưỡng: Tạm thời bà Nguyễn Thị S không yêu cầu ông Dương Trùng D cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.4]. Về tài sản chung: Các đương sự xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[2.5]. Về nợ chung: Các đương sự xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[3]. Về án phí: Căn cứ quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị S là người yêu cầu nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56; Điểu 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 92; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị S và ông Dương Trùng D.
- Về con chung: Giao cháu Dương Ngọc Như Ý, sinh ngày 06/7/2021 cho bà Nguyễn Thị S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, tạm thời bà S không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, ông Dương Trùng D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trợ. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- 2.1. Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- 2.2. Về nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị S phải nộp 300.000đ án phí, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0005076 ngày 12/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa. Bà S đã nộp đủ án phí.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS ND tỉnh; - VKSND TP. Biên Hòa; - THA dân sự; - Đương sự; - UBND xã (phường) nơi ĐKKH - Lưu. |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đồng Thị Hồng |
Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Nguyễn Thị Son xin được giải quyết cho ly hôn với ông Dương Trùng Dương.
