TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24/02/2025 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
* Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Tới
Ông Nguyễn Danh Lơi
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chùy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 230/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXX-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 30/QĐ-HPT ngày 07/02/2025 giữa:
* Nguyên đơn: Chị Trương Thị L, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
* Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
Nơi cư trú hiện nay: C.
Tại phiên toà chị Trương Thị L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/12/2024, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Trương Thị L trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Trương Thị L và anh Nguyễn Hữu Q sau thời gian tìm hiểu yêu thương nhau trên cơ sở tự nguyện đã tổ chức cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 19/4/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại Thôn N, xã N, huyện T được một thời gian khoảng 04 năm; đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống cũng như kế hoạch phát triển kinh tế gia đình dẫn đến nhiều lần vợ chồng cãi vả, xung đột. Vợ chồng chị đã cố gắng cùng với gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả, thực tế anh chị đã sống ly thân từ 2017 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hiện tại anh Nguyễn Hữu Q đã rời khỏi Việt Nam đi lao động ở CHLB N, bản thân anh Q cũng không thông báo, liên lạc với vợ con, không quan tâm gì đến gia đình.
Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L có đơn khởi kiện đề nghị TAND tỉnh Thanh Hóa cho ly hôn với anh Nguyễn Hữu Q.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 25/7/2013 và Nguyễn Trà M, sinh ngày 22/8/2016. Nay ly hôn chị xin được nuôi cả 02 cháu và không yêu cầu anh Q phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
* Bị đơn là anh Nguyễn Hữu Q không có mặt tại địa phương và chị không biết địa chỉ cụ thể của chồng là anh Q ở đâu tại C nên không thể cung cấp địa chỉ của anh tại C cho Tòa án, chị cho biết anh Q vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ ở thôn N, xã N, huyện T. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin của anh Nguyễn Hữu Q từ bố mẹ đẻ anh ấy và từ chính quyền địa phương.
Theo yêu cầu của chị L, ngày 21/01/2025. Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa cùng đại diện chính quyền địa phương tiến hành xác minh tại gia đình ông Nguyễn Hữu P (bố đẻ anh Q) ở Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Thanh hóa thì được biết:
Anh Nguyễn Hữu Q là con trại ông, hiện anh Q đang lao động tại CHLB Nga, anh ấy vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình ông nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể của anh Q.
Ông Nguyễn Hữu P đã nhận các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án Ly hôn giữa chị Trương Thị L và anh Nguyễn Hữu Q thay cho anh Q và đã thông báo qua điện thoại cho anh Nguyễn Hữu Q các nội dung văn bản liên quan đến vụ án ly hôn nói trên.
Qua xác minh, ông P cho biết: Chị L và anh Q tự do tìm hiểu và có tổ chức cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kêt hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, sau khi cưới thì anh chị sống tại nhà ông đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể thế nào thì ông không nắm được, gia đình cũng đã khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị L về nhà bố mẹ đẻ ở và anh chị ấy ly thân từ đó cho tới nay. Năm 2024 anh Q đi xuất khẩu lao động ở CHLB N, địa chỉ cụ thể ở đâu tôi không biết, thỉnh thoảng có liên lạc về gia đình thông qua điện thoại. Khi Toà án đến làm việc và giao các thông báo về việc ly hôn giữa anh Q và chị L tôi mới biết, nay chị L có đơn ly hôn anh Q ông cho rằng, ly hôn là quyền của mỗi người nên tôi tôn trọng quyết định của hai cháu, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Về con chungg: ông P cho biết, vợ chồng anh chị Loan P1 có 02 con chung là Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 25/7/2013 và Nguyễn Trà M, sinh ngày 22/8/2016 từ nhỏ cháu đã ở với mẹ, hiện tại chị L đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu, nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì tôi đề nghị tòa án giải quyết theo quy định.
Về tài sản, công nợ chung của chị L và anh Q thì ông không biết và cũng không có liên quan, yêu cầu gì nên không có ý kiến.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ, Thẩm phán cũng đã tiến hành lấy lời khai của cháu Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 25/7/2013 và Nguyễn Trà M, sinh ngày 22/8/2016 là con chung của chị Trương Thị L và anh Nguyễn Hữu Q, hiện các cháu đã trên 07 tuổi để biết nguyện vọng của các cháu về các vấn đề có liên quan đến việc ly hôn của bố mẹ, đặc biệt là nguyện vọng đuọc sống chung với bố hay mẹ. Cả 02 cháu đều mong muốn đuọc ở với mẹ là chị Trương Thị L.
* Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, trong quá trình thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về hướng giải quyết vụ án:
Chị L và anh Q kết hôn hợp pháp, nay mâu thuẫn vợ chồng không thể hòa giải, chị L có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Hữu Q là đúng pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án. anh Q và gia đình anh không cung cấp địa chỉ cụ thể cho chị L và cho Tòa án, nên Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa không lấy được lời khai hay thu thập ý kiến của anh Q và không thể tiến hành các thủ tục Tố tụng đối với anh Q theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ - HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ thì Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Đề nghị HĐXX:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trương Thị L, cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Q.
- Về con chung: Giao cho chị Trương Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 cháu Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 25/7/2013 và Nguyễn Trà M, sinh ngày 22/8/2016 đến khi đủ 18 tuổi; chấp nhận việc chị L không yêu cầu anh Q phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị.
- Về tài sản và công nợ chung: Chị Trương Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Trương Thị L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị 300.000 đồng. chị L đã nộp đủ án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho chị Trương Thị L và anh Nguyễn Hữu Q các văn bản tố tụng của Tòa án; chị L, anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228; 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị Trương Thị L và anh nguyễn Hữu Q.
- Về thẩm quyền: Tại Đơn khởi kiện ngày 19/11/2024, chị Trương Thị L trình bày hiện tại anh Nguyễn Hữu Q đang sinh sống và làm việc tại CHLB N, trên thực tế theo Công văn số 5112/XNC(T3) ngày 11/12/2024 của Phòng Q1 C1 xác nhận Nguyễn Hữu Q đã xuất cảnh khỏi Việt Nam vào ngày 10/5/2024 qua cửa khẩu sân bay N bằng hộ chiếu số P02266698 đến nay chưa có thông tin nhập cảnh.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
- Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Q không có địa chỉ cụ thể tại CHLB N nhưng thường xuyên liên lạc về gia đình qua điện thoại. Bố anh là ông Nguyễn Hữu P đã nhận các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án ly hôn giữa anh Q và chị L đồng thời cam kết sẽ thông tin các văn bản tố tụng liên quan đến việc ly hôn cho anh Q biết.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ - HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Trong vụ án ly hôn, người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam ở nước ngoài và nguyên đơn chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài thì Tòa án giải quyết như sau:
1. Trường hợp qua người thân thích của bị đơn có căn cứ xác định họ có liên hệ với người thân thích ở trong nước nhưng người thân thích của họ không cung cấp địa chỉ của bị đơn cho Tòa án, không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì được coi là cố tình giấu địa chỉ.
Trường hợp Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà người thân thích của họ không cung cấp địa chỉ của bị đơn cho Tòa án, không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì Tòa án tiếp tục giải quyết, xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định tố tụng trong vụ án cho bố anh Nguyễn Hữu Q là ông Guyễn Hữu P2. Do đó việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Q được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét nội dung khởi kiện của chị Trương Thị L.
[2.1] Về hôn nhân:
Chị Trương Thị L và anh Nguyễn Hữu Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 19/4/2013 nên là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại điều 8; 9 luật HNGĐ năm 2014.
Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị L trình bày vợ chồng chị sau khi cưới sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách, quan điểm sống bất đồng, hay cãi nhau, anh chị đã ly thân từ 2017 đến nay. Năm 2024 anh Q đi xuất khẩu lao động ở CHLB Nga và trên thực tế anh chị không còn quan tâm đến nhau. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, không muốn hòa giải đoàn tụ, chỉ muốn giải quyết ly hôn với anh Q.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh Q đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận giải quyết cho chị được ly hôn anh Q theo quy định tại Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
Chị L và anh Q có 02 con chung là Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 25/7/2013 và Nguyễn Trà M, sinh ngày 22/8/2016, hiện 02 cháu đang sống cùng chị L và chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 02 con, không yêu cầu anh Q phải đóng góp cấp dưỡng cho việc nuôi con cùng chị. Nguyện vọng của các cháu Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 25/7/2013 và Nguyễn Trà M, sinh ngày 22/8/2016 cũng mong muốn được ở với mẹ thể hiện qua lời khai của các cháu được Thẩm phán thu thập theo quy định của pháp luật.
Xét thấy nguyện vọng của chị xin được trực tiếp nuôi 02 con chung là chính đáng vì hiện nay anh Q đang sinh sống, lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con được.
Do đó để đảm bảo quyền lợi và điều kiện tốt nhất cho cháu, cần giao 02 cháu Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 25/7/2013 và Nguyễn Trà M, sinh ngày 22/8/2016 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, chị L tự nguyện không yêu cầu anh Q cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy chị L có công việc làm, có thu nhập và nơi ở ổn định, đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và đây là sự tự nguyện của chị nên HĐXX chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về tài sản, công nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Q không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này nếu anh chị yêu cầu thì có quyền khởi kiện tại Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về án phí: Chị Trương Thị L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; điều 238; khoản 4 Điều 147; Điều 273; 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 51; 56; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 6; điểm a Khoản 1 Điều 24; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị L
- Về hôn nhân: Cho chị Trương Thị L được ly hôn anh Nguyễn Hữu Q
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 25/7/2013 và Nguyễn Trà M, sinh ngày 22/8/2016 là con chung của chị Trương Thị L và anh Nguyễn Hữu Q cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
Anh Q không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L.
Anh Nguyễn Hữu Q có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
2. Về án phí: Chị Trương Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Biên lai thu số: 0000771 ngày 20/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. (Chị L đã nộp đủ tiền án phí).
3. Quyền kháng cáo:
Chị Trương Thị L có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ Bản án.
Anh Nguyễn Hữu Q có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Văn Quân |
Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
