|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23-6-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Đóa.
- Bà Hoàng Hương Thảo.
– Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1997. Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã B (xã Q cũ), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Thôn G, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Hồ Sỹ Đ, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B (xã Q cũ), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật cho anh Hồ S Đoàn: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B (xã Q cũ), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Mẹ đẻ của anh Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 02 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày: Chị và anh Hồ Sỹ Đ tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/12/20217 tại UBND xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết vợ chồng chung sống tình cảm bình thường. Năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh Đ không cho chị đi làm, không cho về ngoại và giao tiếp với bạn bè và không tôn trọng chị. Bố mẹ hai bên khuyên bàn nhưng không có kết quả. Cuộc sống chung không hạnh phúc, nên chị về sống cùng bố mẹ tại xã N. Tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn trầm trọng không thể khắc phục nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ. Vợ chồng có 02 con chung Hồ Thị Bảo A, sinh ngày 20/10/2018 và Hồ Sỹ Đ1, sinh ngày 17/7/2020, các con đang ở với anh Đ. Chị có nguyện vọng được nuôi con Bảo A, giao con Sỹ Đại cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con vì hiện tại anh Đ bị khuyết tật hưởng chế độ trợ cấp của xã hội. Về tài sản chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Hồ Sỹ Đ trình bày: thống nhất với chị T về thời gian, điều kiện kết hôn, tên tuổi con chung. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng bình thường không có mâu thuẫn gì nghiêm trọng. Chị T đi làm về muộn không có thời gian chăm lo cho con cái nên giữa anh và chị T có nói nhau sau đó vợ chồng bình thường. Chị T trình bày mâu thuẫn trong đơn khởi kiện là không đúng. Anh sẽ khắc phục những vấn đề chị T đã chỉ ra để vợ chồng hiểu và cho nhau cơ hội đoàn tụ, anh đang còn tình cảm yêu thương chị T, nên chị T xin ly hôn anh không đồng ý. Nếu phải ly hôn anh đề nghị Toà án giao con chung Bảo A cho chị T, anh xin được trực tiếp nuôi con chung Sỹ Đại, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Hiện tại anh đang được hưởng chế độ bảo trợ của xã hội mỗi tháng 720.000 đồng. Bản thân anh lao động được, làm công việc tự do, thu nhập không ổn định mỗi tháng khoảng 1.000.000 đồng. Anh không yêu cầu giải quyết về tài sản.
Tại Biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa đại diện theo pháp luật cho bị đơn bà Trần Thị T1 trình bày: thống nhất với anh Đ, chị T về thời gian, điều kiện kết hôn, tên tuổi con chung. Quá trình chung sống chỉ thấy anh Đ, chị T có nói nhau nhưng sau đó lại bình thường vợ chồng cùng nhau nuôi dạy con cái. Đầu năm 2025, chị T tự ý bỏ đi, không nói với ai, sau đó nộp đơn xin ly hôn anh Đ tại Toà án. Bà có hỏi anh Đ nhưng anh Đ nói không có chuyện gì cũng không biết lý do tại sao chị T bỏ nhà đi. Chị T làm đơn xin ly hôn anh Đ, bà và anh Đ mong muốn chị suy nghĩ lại để vợ chồng về chung sống với nhau nuôi dạy, chăm sóc con cái. Nếu chị T cương quyết xin ly hôn thì tuỳ chị. Cháu Bảo A có hạn chế về nhận thức, cháu Đ1 bị khuyết tật nặng được hưởng trợ cấp bảo trợ của xã hội. Nếu phải ly hôn đề nghị Toà án giao cháu Bảo A cho chị T, giao cháu Đ1 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Anh Đ là người bị khuyết tật được hưởng trợ cấp của xã hội nhưng cũng tự chăm sóc bản thân và làm công việc nhẹ được như phụ hồ, cũng có thu nhập nhưng không đáng kể.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã B: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị T, anh Đ địa phương không biết do không có đơn yêu cầu hòa giải. Chị T yêu cầu giải quyết ly hôn, quyền nuôi con chung đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn, đại diện theo pháp luật của bị đơn thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị T được ly hôn anh Đ. Giao con chung Hồ Thị Bảo A, sinh ngày 20/10/2018 cho chị T, giao con chung Hồ Sỹ Đ1, sinh ngày 17/7/2020 cho anh Đ, trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Đ, chị T vì không ai yêu cầu. Về tài sản không xem xét. Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, bị đơn anh Hồ S Đoàn cư trú tại xã B, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 và khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Về tư cách tham gia tố tụng: Căn cứ kết quả xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện Đ bị khuyết tật bẩm sinh từ nhỏ đến nay có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, cuộc sống hàng ngày anh vẫn tự sinh hoạt, chăm sóc bản thân bình thường. Hiện nay đang nhận chế độ trợ cấp khuyết tật của xã hội. Trong quá trình giải quyết Tòa án đã yêu cầu gia đình đưa anh Đ đi giám định về tình trạng sức khỏe và mức độ bệnh của anh Đ nhưng gia đình anh Đ từ chối và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nhận thấy anh Đ là người có khuyết tật có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Ông Hồ Sỹ C (bố anh Đ) cũng là người khuyết tật, đang hưởng chế độ trợ cấp khuyết tật của xã hội, vì vậy Tòa án chỉ định mẹ đẻ anh Đ là bà Trần Thị T1 làm đại diện theo pháp luật của anh Đ. Anh Đ, chị T đều thống nhất.
[2] Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Đ và chị T là hợp pháp, tuân thủ điều kiện pháp luật quy định. Các bên đương sự thừa nhận đang sống ly thân, nhưng không không thống nhất về nguyên nhân mâu thuẫn. Tòa án đã phân tích hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Chị T giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, anh Đ không đồng ý. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung đã chấm dứt, mục đích hôn nhân không đạt được. Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn anh Đ.
Về con chung: anh Đ có nguyện vọng được nuôi con Hồ Sỹ Đ1, chị T có nguyện vọng nuôi con Hồ Thị Bảo A, nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của các bên là chính đáng. Anh Đ hiện nay sức khỏe tốt, chỉ khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, cuộc sống hàng ngày anh vẫn tự sinh hoạt, chăm sóc bản thân bình thường. Sự thỏa thuận về việc nuôi con giữa chị T, anh Đ, bà T1 là phù hợp nên cần được chấp nhận. Chị T, anh Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Các Điều 28, 35, 39, khoản 1 Điều 40, Điều và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Hồ Sỹ Đ.
- Về con chung: Giao con chung Hồ Thị Bảo A, sinh ngày 20/10/2018 cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Giao con chung Hồ Sỹ Đ1, sinh ngày 17/7/2020 cho anh Hồ Sỹ Đ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Đ, chị T vì không ai yêu cầu. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, người trực tiếp nuôi con có thể bị thay đổi theo quy định pháp luật.
- Về tài sản: Không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013453 ngày 26/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Trần Thị Th và anh Hồ Sỹ Đ ly hôn
