|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23 - 01 - 2025 V/v:"tranh chấp hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Xuân Thành
Bà Bùi Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: bà Đậu Thị Bích Thủy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: không.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 588/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về "tranh chấp hôn nhân và gia đình", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Đinh Văn L, sinh ngày 12/4/1980; đăng ký HKTT: khối Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; địa chỉ hiện nay: số A, ngách A, ngõ E, đường N, quận V, thành phố Đ, Đài Loan; vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 26/7/1985; đăng ký HKTT: khối Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: khối P, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị K, sinh năm 1958; địa chỉ: khối Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người được uỷ quyền giao nhận các tài liệu của anh Đinh Văn L: anh Nguyễn Việt H, sinh năm 2000; nơi cư trú: thôn T, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai (có chứng thực của Văn phòng Kinh tế, Văn hóa Việt Nam tại Đ), nguyên đơn - anh Đinh Văn L trình bày: anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau vào ngày 08/7/2005 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là thị trấn N), huyện N, tỉnh Nghệ An. Hai bên chung sống hạnh phúc được một thời gian. Do kinh tế khó khăn nên anh L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và từ đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Hơn nữa, do khoảng cách địa lý xa xôi nên cuộc sống vợ chồng ngày càng bế tắc, không có cách nào giải quyết. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh L khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh L ly hôn chị Nguyễn Thị T.
Về con chung: anh L, chị T có 02 con chung là Đinh Văn Â, sinh ngày 23/8/2010 và Đinh Thị L1, sinh ngày 12/8/2012, đều đang ở cùng ông bà nội (ông Đinh Văn N và bà Trần Thị K) tại khối Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, anh L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và đề nghị Toà án tạm giao các cháu cho bố mẹ đẻ anh L (ông Đinh Văn N và bà Trần Thị K) nuôi dưỡng cho đến khi anh L về Việt Nam, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do hiện nay anh Đinh Văn L đang sống tại Đài Loan, không thể về Việt Nam giải quyết việc ly hôn nên anh L đề nghị Tòa án giải quyết vụ án trên vắng mặt anh L; uỷ quyền cho ông Nguyễn Việt H, sinh năm 2000; nơi cư trú: thôn T, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, thay mặt anh L nhận các văn bản tố tụng do Tòa án gửi và nộp các văn bản, tài liệu cho Tòa án.
Tại bản tự khai, bị đơn - chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về tình cảm vợ chồng: chị thống nhất về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng; đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh Đinh Văn L.
Về con chung: anh L, chị T có 02 con chung như anh L khai. Lâu nay các cháu ở cùng ông bà nội nhưng các cháu mới về ở với chị T. Nếu ly hôn, chị đồng ý giao 02 con chung cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng vì chị sắp phải đi làm ăn xa, không có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng các con; đồng ý tạm giao 02 con cho ông bà nội (ông Đinh Văn N, bà Trần Thị K) chăm sóc, nuôi dưỡng trong khi anh L đang ở nước ngoài.
Về cấp dưỡng nuôi con: anh L không yêu cầu thì chị đồng ý.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị T xin được vắng mặt tất cả các buổi làm việc và xét xử tại Toà án.
Tại bản tự khai, bà Trần Thị K trình bày:
Bà là mẹ đẻ của anh Đinh Văn L. Chồng bà là ông Đinh Văn N - đã chết. Hiện anh L đang ở Đài Loan. Từ khi vợ chồng anh L, chị T mâu thuẫn và anh L đi nước ngoài (khoảng cuối năm 2022) đến nay, bà K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đinh Văn Â, Đinh Thị L1. Chị T mới đưa các cháu về chăm sóc, nuôi dưỡng tại khối P, thị trấn N. Nếu anh L, chị T ly hôn, bà không yêu cầu tiền công chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Â, L1. Nếu Tòa án giao các con chung của anh L chị T cho anh L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, thì bà cam đoan sẽ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Â, L1 cho đến khi anh L về Việt Nam. Chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu do bà và anh L tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bà K đề nghị được vắng mặt tất cả các buổi làm việc và xét xử tại Toà án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: vụ án "tranh chấp hôn nhân và gia đình" giữa anh Đinh Văn L và chị Nguyễn Thị T; trong đó anh L và chị T đều có hộ khẩu thường trú tại: khối Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Anh L hiện nay đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan (có chứng thực của Văn phòng K1 tại Đ) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát: vụ án không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Anh Đinh Văn L, chị Nguyễn Thị T và bà Trần Thị K đều có đơn đề nghị được vắng mặt tất cả các phiên làm việc, phiên họp, phiên xét xử tại Toà án. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - anh Đinh Văn L, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Đinh Văn L và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 08/7/2005 tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là thị trấn N), huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai bên chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, khoảng cách địa lý xa xôi nên không có cách giải quyết. Anh L đề khởi kiện yêu cầu ly hôn thì chị T đồng ý. Xét thấy tình trạng tình cảm vợ chồng giữa anh L và chị T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Văn L, cho anh Đinh Văn L ly hôn chị Nguyễn Thị T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[4.2] Về con chung: anh Đinh Văn L và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là Đinh Văn Â, sinh ngày 23/8/2010 và Đinh Thị L1, sinh ngày 12/8/2012. Từ khi anh L, chị T mâu thuẫn (khoảng cuối năm 2022) thì bà nội Trần Thị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu. Khoảng một tháng trở lại đây, các con ở với chị T. Ly hôn, anh L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con; đề nghị Tòa án tạm giao 02 con chung cho mẹ đẻ anh L là bà Trần Thị K chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi anh L về Việt Nam, chi phí nuôi các con do các bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị T sắp phải đi làm ăn xa nên đồng ý giao 02 con chung cho anh L chăm sóc, nuôi dưỡng và đồng ý tạm giao các cháu cho mẹ đẻ anh L bà K chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh L ở nước ngoài.
Các cháu Đinh Văn Â, Đinh Thị L1 có nguyện vọng ở với bố. Tuy nhiên, do anh L đang ở nước ngoài nên xin được tạm thời ở cùng bà nội là Trần Thị K để không ảnh hưởng đến việc học hành và sinh hoạt từ trước đến nay.
Bà Trần Thị K cam đoan tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung của anh L, chị T cho đến khi anh L về Việt Nam. Về tiền công và chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu, bà K không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con chưa thành niên và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: anh Đinh Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết, miễn xét.
Bà Trần Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu Đinh Văn Â, Đinh Thị L1 từ cuối năm 2022 đến nay nên miễn xét.
[4.3] Về tài sản chung, nợ chung: anh Đinh Văn L, chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, miễn xét.
[5] Về án phí: anh Đinh Văn L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; Điều 207; Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: anh Đinh Văn L được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
2. Về con chung: giao con chung là Đinh Văn Â, sinh ngày 23/08/2010 và Đinh Thị L1, sinh ngày 12/8/2012 cho anh Đinh Văn L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do anh L đang ở nước ngoài nên tạm giao các cháu Đinh Văn Â, Đinh Thị L1 cho bà Trần Thị K chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi anh Đinh Văn L trở về Việt Nam.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: anh Đinh Văn L không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.
Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: miễn xét.
3. Án phí: anh Đinh Văn L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí anh Đinh Văn L đã nộp (do anh Nguyễn Việt H nộp thay) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013546 ngày 22/11/2024.
4. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh Đinh Văn L được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
