Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21/3/2025

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Việt Thắng
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Bà Thái Ánh Trinh
    2. Bà Trần Thúy Kiên
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 199/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Bà Lê Thị H - sinh năm 1990.

Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Phương E - sinh năm 1986.

ĐKTT: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 02)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 9 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn Phương E do tự tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, không tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ vào ngày 02 tháng 3 năm 2017 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17/2017. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Phương E không lo làm ăn, thường hay uống rượu say về kiếm chuyện chửi mắng vợ con và đập phá đồ đạc, bà H nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông Phương E không sửa đổi và còn ghen tuông làm mâu thuẫn giữa vợ chồng càng trầm trọng thêm. Đến ngày 29/8/2024, ông Phương E gom đồ đạc về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Trong thời gian ly thân không có biện pháp để xóa bỏ mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm. Nay nhận thấy cuộc hôn nhân với ông Phương E không còn hạnh phúc nên bà H xin ly hôn.

- Về con chung: Quá trình chung sống, ông, bà có 02 người con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 03/10/2013 và Nguyễn Quốc D, sinh ngày 06/01/2019. Hiện tại các con đang sống chung với bà H. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành, không yêu cầu ông Phương E cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật đối với ông Nguyễn Văn P Em theo quy định, tuy nhiên ông Phương E vắng mặt không rõ lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Lê Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Nguyễn Văn P Em vắng mặt lần thứ 02 không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn do có cơ sở.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nhận thấy, hôn nhân giữa bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn Phương E là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xãy ra mâu thuẫn nên bà H khởi kiện xin ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo biên bản xác minh ngày 21/01/2025 thì ông Phương E có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không rõ lý do, Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Bà H cho rằng trong thời gian vợ chồng chung sống thì ông Phương E không lo làm ăn, thường hay nhậu nhẹt rồi kiếm chuyện chửi mắng vợ con và đập phá đồ đạc và còn ghen tuông bóng gió khiến cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Từ khi ly thân đến nay giữa vợ chồng không còn liên lạc và cũng không có biện pháp hàn gắn tình cảm.

Đối với ông Nguyễn Văn Phương E, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều vắng mặt không rõ lý do. Qua đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm nên ông Phương E đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân để cho bà H tự mình giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, bà H xác định đã không còn tình cảm với ông Phương E và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này thì cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Nên căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp.

[4] Xét về con chung: Quá trình chung sống, ông, bà có 02 người con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 03/10/2013 và Nguyễn Quốc D, sinh ngày 06/01/2019. Xét thấy, các con chung hiện đang do bà H nuôi dưỡng, đảm bảo các điều kiện sinh hoạt cơ bản, nếu giao con cho ông Phương E nuôi dưỡng sẽ làm thay đổi môi trường, hoàn cảnh sống ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của các cháu. Quá trình giải quyết vụ án, cháu Quốc K trình bày hiện tại cháu và em trai đang sống với mẹ và có nguyện vọng muốn tiếp tục sống với mẹ. Phía bà H cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, do đó nghị nên giao con chung cho bà H nuôi dưỡng đến trưởng thành là phù hợp.

Ngoài ra cũng dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Phương E để đảm bảo cho con chung nhận đầy đủ tình cảm từ cha mẹ như những trẻ khác.

Xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha, mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định giữa bà và ông Phương E không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ giải quyết thành vụ án khác.

[6] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu án phí là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[7] Xét ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 5; 28; 35; 39; 147; 207; 227; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 56, 81; 82; 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Nghị quyết Số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn Phương E.

Về con chung: Công nhận bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn Phương E có 02 người con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 03/10/2013 và Nguyễn Quốc D, sinh ngày 06/01/2019. Giao 02 con chung cho bà H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành theo nguyện vọng của con chung. Ông Phương E không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Phương E không ai được cản trở. Bà H, ông Phương E có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con vì lợi ích của con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Nếu sau này phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung sẽ giải quyết thành một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005718 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ. Công nhận bà H đã nộp xong án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TAND TP. Cần Thơ;
  • -VKSND quận Thốt Nốt;
  • -Cơ quan THA quận Thốt Nốt;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Việt T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger