|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HOÀ TỈNH LONG AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án: 29/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 02 - 2025 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Lin.
- Bà Trần Thị Đổi.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1472/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 312/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bảo N, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
-
Bị đơn: Ông Nguyễn T, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Chỗ ở hiện nay: Số B, Khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Bà N xin vắng mặt; Ông T vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 27 tháng 11 năm 2024 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Trần Thị Bảo N trình bày: Bà Trần Thị Bảo N và ông Nguyễn T chung sống với nhau vào năm 2022 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 01 tháng 11 năm 2022. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất hòa trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vả, cuộc sống chung không phù hợp. Nay bà N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên xin ly hôn ông T.
Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với ông Nguyễn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông T không đến Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An làm việc hoặc phản hồi ý kiến của ông T về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà căn cứ các kết quả thẩm tra, xét hỏi tại phiên Toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp là hôn nhân gia đình; Bị đơn ông Nguyễn T có cư trú tại số B, Khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn bà Trần Thị Bảo N xin vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn T vắng mặt không lý do nên căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà N và ông T.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Bảo N và ông Nguyễn T chung sống với nhau vào năm 2022 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 01 tháng 11 năm 2022 nên quan hệ hôn nhân của bà N và ông T được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Bà N và ông T chung sống với nhau hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất hòa trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vả, cuộc sống chung không phù hợp. Nay bà N xét thấy nguyên nhân mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài nên tha thiết xin được ly hôn với ông T. Ngược lại, ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không đến Tòa án để tham gia hòa giải đoàn tụ cũng như không tham gia phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn gia đình giữa bà N và ông T đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được và cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy, bà N yêu cầu được ly hôn với ông T là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Bà N khai, bà N và ông T chung sống không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngược lại, ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[2.3] Về tài sản chung: Bà N khai, bà N và ông T chung sống không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngược lại, ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[2.4] Về nợ chung: Bà N khai, bà N và ông T chung sống không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngược lại, ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[3] Về án phí: Buộc bà Trần Thị Bảo N phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bảo N xin ly hôn với ông Nguyễn Tiện .
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Bảo N được ly hôn với ông Nguyễn Tiện.
Về con chung: Bà N khai, bà N và ông T chung sống không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đề cập xem xét.
Về tài sản chung: Bà N khai, bà N và ông T chung sống không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đề cập xem xét.
Về nợ chung: Bà N khai, bà N và ông T chung sống không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đề cập xem xét.
Về án phí: Buộc bà Trần Thị Bảo N phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước, được khấu trừ số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo biên lai số 6876 ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hoà sang án phí để thi hành.
Án này là sơ thẩm, bà N và ông T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Hiệp |
Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hon
