|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐÀ NẴNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20-08-2025
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Sơn và bà Đậu Thị Luyện.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thuận, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Bà Võ Thị Hoài My, Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 08 năm 2025, tại Hội trường Toà án nhân dân khu vực 8 – Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 03 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/06/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/07/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị M, sinh ngày 20/02/2000.
- Bị đơn: Anh Đinh Văn L, sinh ngày 18/6/2001.
Số căn cước công dân: [...].
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam, nay là thôn T, xã T, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
Số chứng minh nhân dân: [...].
Địa chỉ: thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam, nay là thôn C, xã T, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/03/2025, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đinh Thị M trình bày: Chị và anh Đinh Văn L tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam cấp giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 22/03/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh L không lo làm ăn mà còn thường xuyên sử dụng chất gây nghiện. Chị và anh L mỗi người sống mỗi nơi từ tháng 06 năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian qua, vợ chồng không thể hàn gắn lại với nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đinh Văn L.
Về con chung: Có 01 con chung tên là Đinh Văn L1, sinh ngày 15/12/2021. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng: Chị không yêu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đinh Văn L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Đinh Thị M và anh Đinh Văn L được ly hôn. Về con chung: giao cháu Đinh Văn L1, sinh ngày 15/12/2021 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Chị Đinh Thị M và anh Đinh Văn L tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 04 ngày 22/03/2022. Ngày 06/03/2025, nguyên đơn chị Đinh Thị M nộp đơn khởi kiện về tranh chấp ly hôn, nuôi con với anh Đinh Văn L theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 186, Điều 188 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Đinh Văn L có nơi cư trú tại thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn L, xã T, thành phố Đà Nẵng) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 – Đà Nẵng) theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị M và anh Đinh Văn L kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, lừa dối, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh L không lo làm ăn mà còn thường xuyên sử dụng chất gây nghiện. Trong thời gian qua, vợ chồng không thể hàn gắn lại với nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mỗi người sống mỗi nơi từ tháng 06 năm 2023 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tiến hành hòa giải nhưng anh L vắng mặt không có lý do. Như vậy, anh L không có nguyện vọng hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị M.
Tại văn bản ngày 10/04/2025 của Hội Liên hiệp phụ nữ xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam cung cấp thông tin tình trạng hôn nhân xác định: hiện nay anh L và chị M không sống chung với nhau, anh L không có trách nhiệm với gia đình và con. Anh chị có 01 con chung và đang ở với chị M.
Từ những nhận định trên chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đinh Thị M đối với anh Đinh Văn L là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị M và anh L có 01 con chung tên là Đinh Văn L1, sinh ngày 15/12/2021. Sau khi ly hôn, chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, hiện nay cháu L1 chưa đủ 04 tuổi, đang sinh sống cùng với chị M và chị M có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, bảo đảm sự ổn định trong sinh hoạt cũng như sự phát triển của con. Còn anh L vắng mặt tại phiên tòa không có lý do và không có ý kiến về con chung. Vì vậy, để cuộc sống của cháu L1 được ổn định, Hội đồng xét xử giao cháu L1 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về cấp dưỡng: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: chị Đinh Thị M phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 và 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đinh Thị M về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con đối với anh Đinh Văn L.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị M, sinh ngày 20/02/2000 được ly hôn với anh Đinh Văn L, sinh ngày 18/06/2001. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 04 ngày 22/03/2022 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam).
- Về con chung: Giao con chung Đinh Văn L1, sinh ngày 15/12/2021 cho chị Đinh Thị M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
- Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Đinh Thị M phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị M đã nộp theo biên lai thu số 0004924 ngày 07/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam, nay là Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Đinh Thị M có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/08/2025). Bị đơn anh Đinh Văn L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Hải |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
|
Nguyễn Tuấn Sơn Đậu Thị Luyện |
Lê Thanh Hải |
Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 20/08/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
