TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 3 - 2025
V/v: Ly hôn giữa chị Mơ và anh Quyết.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thái, ông Nguyễn Văn Chấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 335/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “ Ly hôn, con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXX-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST - HNGĐ ngày 10/3/2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1959 (vắng mặt)
Địa chỉ: A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 18/6/2024 và trong các lời khai chị Nguyễn Thị M là nguyên đơn trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Q năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Anh chị kết hôn là tự nguyện không bị ai ép buộc, cưới xong anh chị về chung sống với nhau ngay tại thôn A, xã T. Thời gian đầu sống hạnh phúc, sau thời gian ngắn thì đã có nhiều mâu thuẫn xảy ra, do không tìm được tiếng nói chung. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng không còn tình cảm không thể chung sống được với nhau, anh chị đã sống ly thân từ 2016 cho đến nay không còn quan hệ về tình cảm và kinh tế. Hai bên gia đình đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị được ly hôn với anh Q.
Về con chung: Anh chị có 01 con là Nguyễn Trung K, sinh ngày 29/6/2008. Chị đề nghị được nuôi con chị không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Chị hiện nay là công việc tự do thu nhập 10.000.000đ/tháng đủ điều kiện nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và công nợ cũng không có anh không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa do công việc bận nên chị M có đơn xin xét xử vắng mặt.
Về phía bị đơn anh Nguyễn Văn Q đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều nhần nhưng anh Q không đến Tòa án để trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của chị M. Ông Nguyễn Văn C (bố đẻ của anh Q) ở cùng địa chỉ xác nhận anh Q đi làm ở Bắc Giang vẫn thường xuyên liên lạc về nhà nhưng địa chỉ cụ thể làm ở đâu ông có hỏi anh Q nhưng anh Q không nói rõ. Sau khi nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh Q như Thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, ông đã giao lại cho anh Q như cam kết với Tòa án anh Q đã nhận được và không có ý kiến gì.
Tại biên bản xác minh 16/01/2025 Toà án làm việc với Đại diện thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh Q là công dân của thôn A hiện nay anh Q đi làm công ty vẫn thường xuyên về nhà và anh Q không còn sống chung cùng chị M nữa. Nay chị M xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Văn Q vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn C người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Ông là bố đẻ của anh Nguyễn Văn Q, ông có biết việc chị M có đơn xin ly hôn với anh Q, việc này ông nhất trí và không có ý kiến gì. Anh Q hiện nay đi làm công ty ở Bắc Giang ông không biết địa chỉ cụ thể anh Q chỉ về nhà vào thứ 7 và chủ nhật, ông sẽ nhận thay anh Q nhưng văn bản của Tòa án và cam kết giao lại cho anh Q tận tay. Đối với con anh Q và chị M là cháu Nguyễn Trung K từ nhỏ vẫn ở cùng anh Q và gia đình ông nên ông đề nghị Tòa án để cháu K ở với anh Q và gia đình ông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành nghiêm chỉnh.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
- Về nuôi con chung: Giao cho anh Q nuôi con Nguyễn Trung K, sinh ngày 28/10/2008. Cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị M được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.
Ngoài ra còn đề xuất về án phí và quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, HĐXX nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị M và các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện là hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức nội dung đơn khởi kiện. Anh Q là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó Tòa án nhân dân huyện Lục Nam thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về phía anh Q Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Q không đến Tòa án làm việc cũng như tham gia phiên tòa xét xử. Toà án cũng đã có công văn trao đổi với Phòng X - Công an tỉnh B hiện nay anh Nguyễn Văn Q không có thông tin xuất cảnh, chị M do công việc bận nên chị có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị đơn vắng mặt vì vậy. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS, HĐXX đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị M kết hôn với anh Nguyễn Văn Q năm 2007 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Anh chị có đăng ký kết hôn. Cưới xong anh chị về chung sống với nhau ngay và hòa thuận được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không xây dựng hạnh phúc được với nhau, chị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q, anh Q biết chị M gửi đơn ly hôn nhưng anh Q không đến Tòa án làm việc cũng không đưa ra ý kiến điều đó chứng tỏ anh không có ý định hàn gắn tình cảm. Hiện nay chị M anh Q không còn sống chung với nhau từ năm 2016 cho đến nay không còn quan hệ gì về tình cảm và kinh tế HĐXX thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị M anh Q mục đích hôn nhân không đạt được cuộc sống không có hạnh phúc nên cần cho chị M được ly hôn anh Q là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Anh chị có 1 con chung cháu Nguyễn Trung K, sinh ngày 29/6/2007 hiện cháu K đang ở với ở với anh Q và ông bà nội. Sau khi ly hôn chị M có nguyện vọng được nuôi con. Nhưng cháu K có nguyện vọng được ở với anh Q. Ông C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng xác nhận cháu K đang ở cùng gia đình ông và anh Q cháu vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường cháu K hiện nay đã 17 tuổi ông tôn trọng ý kiến và nguyện vọng của cháu và gia đình ông cũng có nguyện vọng đề nghị Tòa án xem xét giao cháu K cho anh Q nuôi. Xét thấy yêu cầu, nguyện vọng của đương sự là chính đáng. Cháu K 17 tuổi đang học và sinh hoạt ổn định cần giao cho anh Q nuôi con Nguyễn Trung K. Xét thấy là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị M được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.
[4] Về tài sản, công nợ: Chị M không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị M phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
- Về nuôi con chung: Giao cho anh Q nuôi con Nguyễn Trung K, sinh ngày 28/10/2008. Cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị M được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở chị M thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam ngày 24/10/2024 theo biên lai thu số 0008521.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lự |
Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, con chung
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
