TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19-9-2025 V/v: Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thào Thị Chứ, bà Lường Thị Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HNGĐ ngày 01-8-2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04-9-2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Bạc Cầm T, sinh ngày 14/4/1999. (Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Bản B, xã MK, tỉnh Sơn La.
- Bị đơn: Chị Quàng Thị D, sinh ngày 08/12/1999. (Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Bản B, xã MK, tỉnh Sơn La.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Bạc Cầm T trình bày:
Anh Bạc Cầm T và chị Quàng Thị D kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 03/6/2022 tại Ủy ban nhân dân xã LT, huyện TC (nay là xã MK), tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng hiện tại đang sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay anh Bạc Cầm T xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh yêu cầu giải quyết ly hôn với chị Quàng Thị D.
Về con chung: Anh Bạc Cầm T và chị Quàng Thị D có 03 con chung là cháu Quàng Thị T, sinh ngày 06/12/2015; cháu Quàng Thị D, sinh ngày 25/10/2017; cháu Quàng Thiên V, sinh ngày 11/8/2019.
Anh Bạc Cầm T đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Quàng Thị T, sinh ngày 06/12/2015; cháu Quàng Thị D, sinh ngày 25/10/2017; cháu Quàng Thiên V, sinh ngày 11/8/2019 cho đến khi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Bạc Cầm T không yêu cầu chị Quàng Thị D phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Bạc Cầm T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Anh T giữ nguyên ý kiến như trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai và có yêu cầu miễn án phí.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn không có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án. Ngày 17/9/2025 bị đơn chị Quàng Thị D gửi đơn xin xét xử vắng mặt qua dịch vụ bưu chính với nội dung trình bày như sau:
Chị Quàng Thị D và anh Bạc Cầm T kết hôn với nhau có xảy ra mâu thuẫn đúng như anh Bạc Cầm T trình bày. Chị Quàng Thị D nhất trí ly hôn với anh Bạc Cầm T.
Về con chung: Chị Quàng Thị D và anh Bạc Cầm T có 03 con chung là cháu Quàng Thị T, sinh ngày 06/12/2015; cháu Quàng Thị D, sinh ngày 25/10/2017; cháu Quàng Thiên V, sinh ngày 11/8/2019. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân cả 03 con ở với anh T. Chị D đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Quàng Thị D, sinh ngày 25/10/2017 và giao cháu Quàng Thị T, sinh ngày 06/12/2015; cháu Quàng Thiên V, sinh ngày 11/8/2019 cho anh Bạc Cầm T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng và điều kiện nuôi con tại địa chỉ nơi cư trú của các đương sự:
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 12/8/2025 xác định: Chị Quàng Thị D và anh Bạc Cầm T có kết hôn với nhau vào ngày 03/6/2022 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LT, huyện TC (nay là xã MK), tỉnh Sơn La. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, không bên nào ép buộc. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn gia đình nên hiện tại anh T, chị D đang sống ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Anh T, chị D có 03 con chung là cháu Quàng Thị T, sinh ngày 06/12/2015; cháu Quàng Thị D, sinh ngày 25/10/2017; cháu Quàng Thiên V, sinh ngày 11/8/2019.
Kết quả xác minh về điều kiện nuôi con xác định: Kể từ khi anh Tùng, chị Dung ly thân nhau đến nay thì cháu Quàng Thị T, cháu Quàng Thị D, cháu Quàng Thiên V sống với anh T, anh T đang là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dậy các con. Anh Bạc Cầm T có nhà cửa đất đai và thu nhập ổn định.
Tại biên bản ghi ý kiến ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Sơn La đối với cháu Quàng Thị T, Quàng Thị D: cả hai cháu có ý kiến trong trường hợp anh T, chị D ly hôn thì nguyện vọng của cháu mong muốn được ở với anh Bạc Cầm T cùng anh chị em, ngoài ra cháu không có ý kiến gì thêm.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng đầy đủ tư cách tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Bạc Cầm T được ly hôn với chị Quàng Thị D.
Về con chung: Giao cháu Quàng Thị T, sinh ngày 06/12/2015; cháu Quàng Thị D, sinh ngày 25/10/2017; cháu Quàng Thiên V cho anh Bạc Cầm T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Chị Quàng Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn anh Bạc Cầm T theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Bạc Cầm T yêu cầu ly hôn với bị đơn chị Quàng Thị D có địa chỉ nơi cư trú tại Bản B, xã MK, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2 – Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Nguyên đơn anh Bạc Cầm T, bị đơn chị Quàng Thị D vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Bạc Cầm T và chị Quàng Thị D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc, được Ủy ban nhân dân xã LT, huyện TC (nay là xã MK), tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, anh T, chị D là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh T, chị D chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh T, chị D đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Tình cảm vợ chồng không còn, anh T yêu cầu ly hôn với chị Quàng Thị D. Chị Quàng Thị D nhất trí ly hôn với anh Bạc Cầm T.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai của đương sự và tại phiên tòa cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của anh T và chị D không hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, nguyên nhân do mâu thuẫn gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân được một thời gian dài không ai quan tâm đến cuộc sống của ai dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc.
Từ các căn cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng anh T và chị D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho anh Bạc Cầm T ly hôn với chị Quàng Thị D.
[3] Về con chung: Anh Bạc Cầm T và chị Quàng Thị D có 03 con chung là cháu Quàng Thị T, sinh ngày 06/12/2015; cháu Quàng Thị D, sinh ngày 25/10/2017; cháu Quàng Thiên V, sinh ngày 11/8/2019. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu Quàng Thị T, cháu Quàng Thị D, cháu Quàng Thiên V đang ở với anh T.
Anh Bạc Cầm T đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Quàng Thị T, cháu Quàng Thị D, cháu Quàng Thiên V cho đến khi trưởng thành. Chị Quàng Thị D đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Quàng Thị D và giao cháu Quàng Thị T, cháu Quàng Thiên V cho anh Bạc Cầm T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ý kiến của con chung trên 07 tuổi: Trong trường hợp anh T, chị D ly hôn thì cháu Quàng Thị T và Quàng Thị D có nguyện vọng muốn ở với anh Bạc Cầm T cùng anh chị em.
Hội đồng xét xử xét thấy: Ý kiến của cháu Quàng Thị T và cháu Quàng Thị D đều có nguyện vọng muốn ở với anh T và cùng với em trai Quàng Thiên V. Anh T có nơi ở ổn định, có công việc và thu nhập. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh T đảm bảo được điều kiện nuôi dưỡng các con và quyền lợi về mọi mặt của con. Chị D không thường xuyên có mặt tại nhà, chị đi làm thuê ở xa không có thời gian để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con (được thể hiện bởi quá trình Tòa án triệu tập để trình bày ý kiến, chị D không có mặt, chỉ có Đơn xin xét xử vắng mặt chị nộp cho Tòa án qua dịch vụ bưu chính tại BĐVHX Tăng Tiến, tỉnh Bắc Ninh). Hơn nữa, các cháu sống chung với anh T đã ổn định tâm lý, tình cảm anh chị em, ổn định môi trường sống, giáo dục.
Do đó để đảm bảo sự ổn định, không bị xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con và bảo đảm sự phát triển ổn định về mọi mặt cho các cháu Quàng Thị T, cháu Quàng Thị D và cháu Quàng Thiên V cần chấp nhận ý kiến của nguyên đơn, giao cháu Quàng Thị T, cháu Quàng Thị D và cháu Quàng Thiên V cho anh Bạc Cầm T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quàng Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Bạc Cầm T, chị Quàng Thị D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[5] Về án phí: Nguyên đơn anh Bạc Cầm T là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện – kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có yêu cầu được miễn án phí. Do đó căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho anh Bạc Cầm T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Bạc Cầm T được ly hôn với chị Quàng Thị D.
- Về con chung: Giao cháu Quàng Thị T, sinh ngày 06/12/2015; cháu Quàng Thị D, sinh ngày 25/10/2017; cháu Quàng Thiên V, sinh ngày 11/8/2019 cho anh Bạc Cầm T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quàng Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Bạc Cầm T, chị Quàng Thị D xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Do đó không xem xét giải quyết trong vụ án. Trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho anh Bạc Cầm T.
- Về quyền kháng cáo: Anh Bạc Cầm T, chị Quàng Thị D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Tiến Dũng |
Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 19/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – SƠN LA về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa anh Bạc Cầm T và chị Quàng Thị D
