Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST

Ngày 14/4/2025

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Hữu Tăng;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Thủy;

Bà Đinh Thị Hương;

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Đào Đức Thông - Kiểm sát viên;

Trong ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 134/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, vụ án giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị N, sinh năm 1991. Trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Địa chỉ hiện tại: Thôn T, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1987. HKTT: Thôn B, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Địa chỉ hiện tại: Số G, đoạn B, đường M, quận R, thành phố Đ tầng 7-2 (Đài Loan).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Cháu Trần Tuấn K, sinh ngày 04/12/2016;

Người đại diện hợp pháp cho cháu K: Chị Đoàn Thị N, anh Trần Văn T (là bố, mẹ đẻ).

* Người làm chứng:

+ Bà Lê Thị Q, sinh năm 1956. Trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

(Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Đoàn Thị N trình bày:

Chị và anh Trần Văn T có thời gian tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên vào năm 2015. Sau khi kết hôn chị và anh T về gia đình nhà anh T sinh sống tại thôn B, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Năm 2018, anh T sang Đài Loan lao động. Từ lúc anh T sang Đài Loan lao động chị và anh T không còn liên lạc với nhau. Vợ chồng chị sống ly thân từ năm 2018 đến nay và vợ chồng đều độc lập về kinh tế. Chị thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, hạnh phúc hôn nhân không đạt được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T.

Về con chung: Chị và anh Trần Văn T có một con chung là cháu Trần Tuấn K, sinh ngày 04/12/2016, hiện cháu K đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu K cho chị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến năm cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu K với số tiền 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay chị đang đi làm công nhân nên chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Cháu là Trần Tuấn K, cháu là con của bố Trần Văn T và mẹ Đoàn Thị N. Hiện nay cháu đang sống cùng với mẹ. Bố cháu hiện đang lao động tại Đài Loan, thi thoảng bố cháu có gọi điện về hỏi thăm sức khỏe cháu. Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có mong muốn ở với mẹ cháu. Hiện tại cháu còn đang đi học nên cháu đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt cháu.

Người làm chứng bà Lê Thị Q (mẹ đẻ anh T) trình bày: Quá trình kết hôn, ly thân và con chung giữa anh T và chị N như chị N đã tình bày. nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N với anh T như thế nào bà không nắm được nhưng bà thấy vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, bà cũng khuyên bảo hai anh chị sống hòa thuận để cùng nhau nuôi dạy con cái. Anh T hiên đang ở Đài Loan địa chỉ cụ thể bà không biết, tuy nhiên anh T thỉnh thoảng liên lạc với bà qua mạng xã hội. Bà đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh T và đã thông tin cho anh T biết theo đó anh T biết được việc chị N làm đơn xin ly hôn anh và quan điểm của anh T1 như sau:

Về qua hệ vợ chồng: Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị N xin ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Như chị N đã trình bày. Quan điểm của anh T là đồng ý giao cháu cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K. Anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu K số tiền 2.000.000 đồng/tháng đến khi cháu K thành niên.

Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tòa án giải quyết anh T yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

Về phía bà đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của anh T và chị N. Quá trình Tòa án giải quyết bà yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Tại phiên tòa: Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt.

Chủ tọa thay mặt Hội đồng xét xử công bố tóm tắt nội dung vụ án, lời khai của đương sự, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cũng như các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ, Tòa án đã thực hiện việc thông báo và tống đạt văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của của chị Đoàn Thị N.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Chị Đoàn Thị N có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Trần Văn T. Hiện chị N đang trú tại Thôn T, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Anh T hiện đang lao động xuất khẩu tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt nhưng có yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ vào Điều 228 và 229 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn và cả hai đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Cả chị N và anh T đều xác định không còn tình cảm, chị N xin ly hôn, anh T đồng ý. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh T đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xử cho chị N được ly hôn anh T là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Chị N và anh T có một con chung là cháu Trần Tuấn K, sinh ngày 04/12/2016. Hiện cháu K đang ở với chị N, chị N có nguyện vọng xin được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu K, anh T đồng ý, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của cháu K. Do đó, ly hôn giao cháu K cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng đến năm cháu K đủ 18 tuổi, anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cho chị N là có căn cứ.

Ghi nhận sự tự nguyện của anh T về việc cấp dưỡng số tiền hàng tháng cho chị N để nuôi cháu K mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 4 năm 2025 đến năm cháu L đủ 18 tuổi.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đoàn Thị N:

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Đoàn Thị N được ly hôn anh Trần Văn T.
  2. Về con chung: Giao cháu Trần Tuấn K cho chị Đoàn Thị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến năm cháu K đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T. Anh T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu K cho chị N mỗi tháng 2.000.000 (Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 4 năm 2025 đến năm cháu K đủ 18 tuổi.
  3. Kể từ ngày chị N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh T không chịu thi hành khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì phải lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

    Vì lợi ích của con chung, chị N và anh T có quyền yêu cầu thay đổi nuôi con theo quy định của pháp luật.

  4. Về án phí: chị Đoàn Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, đối trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000098 ngày 25/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên. chị Đoàn Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh T phải chịu 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

4. Về quyền kháng cáo: chị Đoàn Thị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, anh Trần Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhân:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - UBND xã Đồng Thanh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Hữu Tăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger