Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14 - 4 - 2025

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia

đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Khánh.

Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Trần Thanh Hoàng.
  • - Ông Nguyễn Lâm Tới.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên toà:

Ông Đặng Phương Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thụ lý số: 30/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 31/3/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Neàng N, sinh năm 1999

Nơi cư trú: Tổ B, ấp V, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang

Bị đơn: Anh Chau K, sinh năm 1996

Nơi cư trú: Tổ D, ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang

(Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh K vắng mặt lần 02 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 10 tháng 2 năm 2025 và lời khai tại Tòa án, chị Neàng N trình bày:

Chị và anh C Kươn quen biết do mai mối và được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức lễ cưới năm 2017 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T (nay thị xã T), An Giang. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc và chỉ được trong khoảng thời gian ngắn, chị và anh K xảy ra nhiều mâu thuẫn và bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cải vã, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt từ khoảng 02 năm 2020 đến nay, chị và anh K đã nhiều lần nói chuyện hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Chau K.

Về con chung: Chị và anh Chau K có 02 con chung tên Chau Sóc L, sinh ngày 11/02/2017 và Chau Sóc L1, sinh ngày 22/10/2019, hiện chị đang trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh A tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn: Anh Chau K, anh K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án triệu tập anh K đến tham dự phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh K vắng mặt không lý do.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

  • - Thẩm phán: Được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa sơ thẩm đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử; thư ký ghi biên bản phiên tòa đúng chức năng nhiệm vụ.
  • - Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chấp hành chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 6 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, tuyên xử:

  • + Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận cho chị Neàng N được ly hôn với anh Chau K.
  • + Về con chung: Chị Neàng N được tiếp tục nuôi dạy 02 con tên Chau Sóc L, sinh ngày 11/02/2017 và Chau Sóc L1, sinh ngày 22/10/2019, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị N không yêu cầu.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác nhận không có nên không đặt ra xem xét.
  • + Về án phí: Chị N khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Chau K là bị đơn, thường trú: Tổ 04, ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tòa án tống đạt hợp lệ cho anh Chau K quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa lần thứ nhất và giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn anh K. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh K vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung: Chị Neàng N cho rằng năm 2017 chị và anh Chau K; được hai gia đình tổ chức lễ cưới, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thị xã T, An Giang; theo giấy chứng nhận kết hôn số: 71 ngày 03/5/2017. Tại thời điểm kết hôn chị N và anh K đã đủ độ tuổi và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, do vậy đây là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Theo chị N cho rằng cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, khoảng tháng 02/2020 giữa thì chị và anh K phát sinh mâu thuẫn, mặc dù giữa chị và anh K có gặp nhau nói chuyện hàn gắn tình cảm nhưng không thành, trong quá trình giải quyết cũng như trong hòa giải, công bố chứng cứ Tòa án cũng đã phân tích hậu quả của việc ly hôn, tuy nhiên chị N cương quyết giữ nguyên yêu cầu là ly hôn với anh K, chứng tỏ mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh K ngày càng trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân thì cũng không đem lại hạnh phúc, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh K là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Chị Neàng N và anh Chau K có 02 con chung tên Chau Sóc L, sinh ngày 11/02/2017 và Chau Sóc L1, sinh ngày 22/10/2019 hiện chị N đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con. Để đảm bảo tâm sinh lý và cuộc sống bình thường cũng như nguyện vọng được sống cùng với mẹ là chị N của các con nên giao các cháu Chau Sóc L, sinh ngày 11/02/2017 và Chau Sóc L1, sinh ngày 22/10/2019 cho chị N được trực tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị N không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét

Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác nhận không có nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Neàng N khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57 Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Neàng N đối với anh Chau K.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Neàng N được ly hôn với anh Chau K.
  2. Về con chung: Chị Neàng N được trực tiếp nuôi con tên Chau Sóc L, sinh ngày 11/02/2017 và Chau Sóc L1, sinh ngày 22/10/2019 anh Chau K không phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  4. Về án phí: Chị Neàng N chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng ) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012024 ngày 10/02/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên.
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKS.ND thị xã Tịnh Biên;
  • - THA.DS thị xã Tịnh Biên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger