|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13/6/2025
Về việc “tranh chấp ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Thu Hà;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Hoàn Thiện và ông Trần Lê .
Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Cẩm Thoang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: ông Bùi Xuân Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 43/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Nguyễn Sĩ Q, sinh năm 2000; địa chỉ: KP Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên. Xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: chị K, sinh năm 2002; HKTT: khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên. Địa chỉ hiện tại: làng K, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tài liệu có tại hồ sơ nguyên đơn anh Nguyễn Sĩ Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh Q và chị K tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P ngày 10/5/2021. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn lý do tính cách không hợp nhau. Từ tháng 6/2024 chị K bỏ về nhà cha mẹ ruột ở Gia Lai nên vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên anh Q yêu cầu được ly hôn với chị K.
Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Tấn M, sinh ngày 07/9/2021, hiện cháu đang ở cùng chị K nên anh Q đồng ý giao con cho mẹ tiếp tục nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn chị K có đơn xin vắng mặt và có đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị K và anh Q tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhưng không hàn gắn được. Nay anh Q yêu cầu ly hôn thì chị K đồng ý. Chị K đang ở tại làng K, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai nhưng có hộ khẩu thường trú tại khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên nên chị K lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa giải quyết vụ án.
Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Tấn M, sinh ngày 07/9/2021. Hiện cháu đang ở cùng chị K nên chị K yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Các đương sự được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Toà án tiến hành xét xử theo quy định.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Q. Về quan hệ hôn nhân cho anh Q được ly hôn chị K; về con chung giao cháu Nguyễn Tấn M, sinh ngày 07/9/2021 cho chị K tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Anh Nguyễn Sĩ Q khởi kiện yêu cầu ly hôn chị K có hộ khẩu thường trú tại khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên, chỗ ở hiện tại ở làng K, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Anh Q và chị K lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa giải quyết tranh chấp, do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
[1.2] Nguyên đơn và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ các Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Q và chị K tự nguyện tìm hiểu nhau, đi đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân thị trấn P cấp Giấy chứng nhận kết hôn Số 33 ngày 10/5/2021 là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống giữa anh Q và chị K phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ tháng 6/2024 chị K về nhà cha mẹ đẻ ở Gia Lai sống đến nay không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, anh Q yêu cầu ly hôn, chị K đồng ý chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Q được ly hôn với chị K.
[2.2] Về con chung: có 01 con chung là cháu Nguyễn Tấn M, sinh ngày 07/9/2021. Xét thấy, sau khi vợ chồng sống ly thân thì cháu M ở cùng mẹ cho đến nay, để đảm bảo cho cháu được ổn định về chỗ ở, được chăm sóc, phát triển tốt cả về thể chất và tinh thần thì cần chấp nhận giao cháu M cho chị K tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: không có yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3] Về án phí: căn cứ Điều 27 nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: anh Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 40, các Điều 147, 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 56, 57, 82, 83, 84, 107 Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Sĩ Q.
- Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Sĩ Q được ly hôn chị K.
-
Về con chung: giao con chung là cháu Nguyễn Tấn M, sinh ngày 07/9/2021 cho chị K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Sĩ Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: anh Nguyễn Sĩ Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005275 ngày 25/04/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Thu Hà |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
