Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 10-6-2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuyệt

Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tài - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 238/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2025/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị X, sinh năm: 1981; địa chỉ: Số A P, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Ngô Tiến H, sinh năm: 1981; địa chỉ: Số A P, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 23/5/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phạm Thị X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Ngô Tiến H sau thời gian tự nguyện tìm hiểu, đến ngày 23/6/2003 đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thành phố B, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại số A P, phường B, thành phố B. Quá trình chung sống hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn nhưng chưa nghiêm trọng, chỉ từ năm 2023 mâu thuẫn mới trở nên trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn phát triển kinh tế. Mọi công việc trong gia đình, chăm lo con cái đều do một mình bà lo lắng. Ngoài ra, vợ chồng bất đồng quan điển sống, tính cách không còn hợp nhau nên thường xuyên cãi vã làm ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của con cái. Hiện nay, vợ chồng bà đã ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ngô Tiến H.

Về con chung: Vợ chồng bà có 04 người con chung là cháu Ngô Thị Anh T, sinh ngày 06/5/2004; cháu Ngô Như Q, sinh ngày: 06/12/2006, cháu Ngô Anh T1, sinh ngày 19/6/2009 và cháu Ngô Quang T2, sinh ngày: 30/9/2019. Nếu được ly hôn thì bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu T1 và cháu T2 đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu T và cháu Q đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng bà không có nợ chung.

Bị đơn ông Ngô Tiến H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để biết và đến Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với vụ án cho Tòa án. Mặt khác, nguyên đơn bà X có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Phạm Thị X vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt. Bị đơn ông Ngô Tiến H vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Đối với thẩm phán về cơ bản tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Đối với Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của đương sự đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà X được ly hôn với ông H; về con chung: giao cháu cháu Ngô Anh T1 và cháu Ngô Quang T2 cho bà X tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi, vấn đề cấp dưỡng nuôi con do không yêu cầu nên không đề cập đến; về tài sản chung: các bên không yêu cầu giải quyết nên không đề cập; về nợ chung: các bên không có nợ chung nên không xem xét đến. Về án phí: Bà X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn bà Phạm Thị X khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc giải quyết được ly hôn với ông Ngô Tiến H; bị đơn ông H có địa chỉ cư trú tại phường B, thành phố B. Vì vậy, Tòa án xác định đây là tranh chấp về “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Phiên tòa ngày 21 tháng 5 năm 2025, nguyên đơn bà X vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông H đã được triệu tập hợp lệ theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà X vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Phạm Thị X và ông Ngô Tiến H đã được UBND xã Đ, thành phố B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 31/2003, ngày 23/6/2003, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, thời điểm đăng ký cả hai đều đủ điều kiện kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà X với ông H là hợp pháp.

Theo bà X, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn nhưng chưa nghiêm trọng, chỉ từ năm 2023 mâu thuẫn mới trở nên trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn phát triển kinh tế. Mọi công việc trong gia đình, chăm lo con cái đều do một mình bà lo lắng. Ngoài ra vợ chồng bất đồng quan điển sống, tính cách không còn hợp nhau nên thường xuyên cãi vã làm ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của con cái. Vì vậy, vợ chồng bà đã ly thân, không còn quan tâm đến nhau.

Còn ông Ngô Tiến H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để biết và đến Tòa án tham gia các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến đối với vụ án. Như vậy, thể hiện sự bỏ mặc, không muốn hàn gắn mâu thuẫn, không còn thiết tha tình cảm vợ chồng.

Mặt khác, Tòa án đã tiến hành xác minh bà Đinh Thị Q1 (là hàng xóm của bà X, ông H) thì bà Q1 cho biết: “Bà X và ông H kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, quá trình chung sống nghe ông bà nội của ông H kể lại vợ chồng mâu thuẫn về cách làm ăn kinh tế, ông bà nội cho đất vợ chồng bán hết. Nay ông nội ốm đau thấy một mình bà X chăm sóc, ông H không quan tâm đến gia đình, bà X thường đi bán trái cây một mình chăm sóc con cái”.

Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa bà X và ông H là có xảy ra trên thực tế và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khó hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà X, cho bà X được ly hôn với ông H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung:

Bà X và ông H có 04 người con chung là cháu Ngô Thị Anh T, sinh ngày 06/5/2004; cháu Ngô Như Q, sinh ngày: 06/12/2006, cháu Ngô Anh T1, sinh ngày 19/6/2009 và cháu Ngô Quang T2, sinh ngày: 30/9/2019. Bà X yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu T1 và cháu T2 đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con. Còn ông H không thể hiện ý kiến có muốn nuôi con hay không.

Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Trong khi cháu Ngô Anh T1 đến nay đã trên 7 tuổi thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ.

Mặt khác, qua xác minh thì được biết ông H không có trách nhiệm với gia đình, con cái; việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con đều do bà X thực hiện.

Do đó, cần giao cháu T1 và cháu T2 cho bà X được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho các cháu. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con bà X không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.

Đối với cháu cháu T và cháu Q hiện đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung:

Bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn ông H không thể hiện ý kiến về tài sản chung. Vì vậy, không xem xét giải quyết.

[2.4] Về nợ chung:

Bà X xác định vợ chồng không có nợ chung; còn ông H không thể hiện ý kiến về nợ chung. Vì vậy, không xem xét giải quyết, trường hợp sau này có tranh chấp thì được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Về án phí:

Buộc nguyên đơn bà Phạm Thị X phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bị đơn ông Ngô Tiến H không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[4] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 175, 177, 179, 205, 207, 220, 227, 228, 262 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ Điều 18, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị X đối với bị đơn ông Ngô Tiến H.

Cho bà Phạm Thị X được ly hôn với ông Ngô Tiến H.

  1. Về con chung: Giao cháu Ngô Anh T1, sinh ngày 19/6/2009 và cháu Ngô Quang T2, sinh ngày: 30/9/2019 (hiện đang do bà X nuôi dưỡng) cho bà Phạm Thị X tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con bà X không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

  1. Về án phí: Buộc bà Phạm Thị X phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ đã nộp theo biên lai thu số 0006437 ngày 25/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc (bà X đã nộp đủ). Ông Ngô Tiến H không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án, các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND TP. Bảo Lộc;
  • - Chi cục THADS TP. Bảo Lộc;
  • - UBND xã Đam B'ri, TP. Bảo Lộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ninh Khắc Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HNGĐ - ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 29/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị Xuyên ly hôn với ông Ngô Tiến H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger