Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

 

Số: 29/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10/4/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Mạnh Nam và ông Đỗ Hữu Thuấn.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Long - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 70/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc “tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
  • - Bị đơn: Anh Hà Văn H1, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H1 có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng tài liệu chứng cứ đã xuất trình, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau:

- Chị và anh H1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (xã T hiện nay), huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 08/3/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp. Năm 2018, chị H về nhà mẹ đẻ ở C, Hà Tĩnh sinh sống. Từ đó đến nay, vợ chồng sống ly thân, không còn tình cảm, không quan tâm đến nhau nữa. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1.

- Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là Hà Thị Kim H2 sinh ngày 11/3/2007 và Hà Quang H3 sinh ngày 17/5/2011. Con H2 đã thành niên, không yêu cầu giải quyết; con H3 hiện đang ở cùng anh H1 và ông bà nội. Chị đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung Hà Quang H3 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng; vì điều kiện không có công việc, thu nhập ổn định nên chị không thể cấp dưỡng nuôi con được.

- Về tài sản: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung, không cho ai vay nợ, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

* Tại bản tự khai ngày 26/3/2025 cũng như tại phiên tòa, anh Hà Văn H1 trình bày:

- Về hôn nhân: Anh đồng ý về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị H trình bày. Vợ chồng hiện đã sống ly thân từ năm 2018, mặc dù anh đã nhiều lần hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành. Nay anh cũng xác định không còn tình cảm với chị H, chị H xin ly hôn anh đồng ý.

- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Hà Thị Kim H2 sinh ngày 11/3/2007 và Hà Quang H3 sinh ngày 17/5/2011. Con H2 đã thành niên, không yêu cầu giải quyết; con H3 hiện đang ở cùng anh và ông bà nội. Chị H đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung Hà Quang H3 cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, anh đồng ý. Tuy nhiên, do sức khỏe anh bị hạn chế, không có công việc, thu nhập ổn định; để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của con chung, anh yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

- Về tài sản: Anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung, không cho ai vay nợ, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

* Tại biên bản lấy lời khai của ông Hà Văn H4, bà Trần Thị X (bố mẹ đẻ anh H1) ngày 20/3/2025, ông bà trình bày:

- Chị H và anh H1 là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (xã T hiện nay) ngày 08/3/2007. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại gia đình tôi ở thôn Đ, xã T. Quá trình chung sống anh chị không phát sinh mâu thuẫn gì với gia đình anh H1. Tuy nhiên, chị H đã bỏ đi nơi khác sinh sống được 07 năm, không về thăm gia đình và các con. Nay chị H làm đơn ly hôn anh H1, đề nghị Tòa án hòa giải để anh chị được đoàn tụ, nếu không được đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

- Về con chung: Chị H, anh H1 có hai con chung là Hà Thị Kim H2 sinh ngày 11/3/2007 và Hà Quang H3 sinh ngày 17/5/2011. Hiện hai cháu đang ở cùng anh H1 và ông bà nội. Nếu anh chị ly hôn, đề nghị Tòa án giao con chung cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng.

* Tại biên bản xác minh ngày 20/3/2025, Ủy ban nhân dân xã T cung cấp:

- Chị H và anh H1 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (xã T hiện nay) ngày 08/3/2007. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa phương, quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ. Nay chị H làm đơn ly hôn anh H1, địa phương đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nếu không được đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định pháp luật để giải quyết.

- Về con chung: Chị H, anh H1 có hai con chung là Hà Thị Kim H2 sinh ngày 11/3/2007 và Hà Quang H3 sinh ngày 17/5/2011. Nếu anh chị ly hôn, đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật, nguyện vọng của con chung để giải quyết đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên địa phương không có ý kiến.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của đương sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử cho chị H được ly hôn anh H1. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Hà Quang H3 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.725.000 đồng/tháng. Về tài sản chung không đặt ra giải quyết. Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn anh Hà Văn H1 có nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị H, anh H1 phát sinh mâu thuẫn nhưng cả hai không có biện pháp để hàn gắn quan hệ hôn nhân, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến nhau. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị H được ly hôn anh H1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về quan hệ con chung: Chị H và anh H1 có hai con chung là Hà Thị Kim H2 sinh ngày 11/3/2007 và Hà Quang H3 sinh ngày 17/5/2011. Con chung Hà Thị Kim H2 đã thành niên, không đặt ra giải quyết; con chung Hà Quang H3 hiện đang ở cùng anh H1. Ly hôn, chị H có nguyện vọng giao con chung Hà Quang H3 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng; anh H1 đồng ý. Tại đơn đề nghị cháu H3 có nguyện vọng được sống cùng anh H1. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần giao con chung Hà Quang H3 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị H và anh H1 đều trình bày hiện tại không có công việc, thu nhập ổn định; tuy nhiên, chị H là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của con chung là phù hợp với quy định pháp luật.

Về mức cấp dưỡng: Do các bên không thỏa thuận được nên Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; tuy nhiên mức cấp dưỡng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Hiện mức lương tối thiểu vùng áp dụng tại huyện C, tỉnh Hà Tĩnh nơi chị H cư trú là 3.450.000 đồng/tháng, như vậy mức cấp dưỡng không dưới 1.725.000 đồng/tháng đối với mỗi con.

Về phương thức cấp dưỡng: Do các bên không thỏa thuận được nên Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng.

[5] Về quan hệ tài sản: Chị H, anh H1 xác định vợ chồng không có nợ chung, không cho ai vay nợ; không yêu cầu giải quyết về tài sản do đó Hội đồng xét xử không giải quyết về quan hệ tài sản.

[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Hà Văn H1.
  2. Về con chung: Giao con chung Hà Quang H3 sinh ngày 17/5/2011 cho anh Hà Văn H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị Trần Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con 1.800.000 đồng/tháng, kể từ tháng 5/2025 đến khi con chung Hà Quang H3 đủ 18 tuổi.

    Chị H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. Chị H, anh H1 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật khi cần thiết.

  3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng. Chuyển số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002480 ngày 13/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy sang thi hành án, chị H còn phải nộp 300.000 đồng.
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Hà Văn H1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 10/4/2025. Chị Trần Thị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thái Thụy;
  • - UBND xã Thuần Thành;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger