|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10/4/2025 V/v: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phước Minh Phong
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Diện
Ông Nguyễn Ngọc Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Cương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 51/2025/TLST-HNGĐ ngày 19/02/2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm: 1985; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn L, sinh năm: 1983; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn bà Phạm Thị T:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hoàng Văn L xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 01/10/2004.
Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm với nhau, ông L thường xuyên tụ tập bạn bè ăn nhậu, bỏ bê gia đình, vô cớ đánh đập vợ con, bà đã nhẫn nhịn bỏ qua cho ông L rất nhiều lần. Tuy nhiên, ông L không thay đổi mà còn thường xuyên đánh đập bà nhiều hơn; do mâu thuẫn không hòa giải được, nên bà đã nhiều lần nộp đơn ly hôn đến Tòa án, nhưng sau đó lại rút đơn về. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông L, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hoàng Văn L.
Về con chung: Bà xác định vợ chồng có 03 con chung là Hoàng Thị Thu T1, sinh ngày 13/5/2005; Hoàng Kim N, sinh ngày 19/02/2008 và Hoàng Thái D, sinh ngày 12/01/2010. Hiện nay cháu Hoàng Thị Thu T1 đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, bà yêu cầu giao cháu Hoàng Kim N và cháu Hoàng Thái D cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; không yêu cầu ông Hoàng Văn L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà xác định tự thỏa thuận về tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà xác định không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo lời trình bày của bị đơn ông Hoàng Văn L:
Về quan hệ hôn nhân: Như bà Phạm Thị T trình bày là đúng. Tuy nhiên, ông vẫn còn tình cảm với bà T nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Như bà T trình bày là đúng, trong trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ông ly hôn thì giải quyết theo nguyện vọng của các con.
Về tài sản chung: Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ông ly hôn thì ông với bà T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về vợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Thị T về việc xin ly hôn với ông Hoàng Văn L. Giao con chung là Hoàng Kim N, sinh ngày 19/02/2008 và Hoàng Thái D, sinh ngày 12/01/2010 cho bà Phạm Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo nguyện vọng của con chung. Ông Hoàng Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị T, bị đơn ông Hoàng Văn L vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự trên theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T và ông Hoàng Văn L xây dựng gia đình với nhau năm 2004, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 01/10/2004. Việc đăng ký kết hôn không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân của bà T và ông L là hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà T khởi kiện ly hôn.
Xét thấy, vợ chồng bà T, ông L phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Sau khi phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cũng đã nhiều lần tìm cách để cải thiện tình cảm nhưng không có kết quả. Nay vợ chồng không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông L cho rằng vẫn còn tình cảm với bà T nên không đồng ý ly hôn, nhưng ông L không có thiện chí và không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Do quan hệ hôn nhân giữa bà T với ông L đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T, giải quyết cho bà T và ông L được ly hôn là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Bà Phạm Thị T và ông Hoàng Văn L có 03 con chung là Hoàng Thị Thu T1, sinh ngày 13/5/2005; Hoàng Kim N, sinh ngày 19/02/2008 và Hoàng Thái D, sinh ngày 12/01/2010. Hiện nay cháu Hoàng Thị Thu T1 đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T yêu cầu được nuôi cả cháu N và cháu D, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; ông L trình bày trong trường hợp Tòa án giải quyết cho bà T và ông ly hôn thì giải quyết theo nguyện vọng của các con.
Xét thấy, cháu N và cháu D đều có đơn trình bày nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, nhằm bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục và nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển tâm sinh lý bình thường của các cháu, nên cần giao cháu N và cháu D cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Việc cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu, nên không đặt ra để xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị T và ông Hoàng Văn L xác định tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[3] Về án phí: Buộc bà Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn ly hôn của bà Phạm Thị T, xử cho bà Phạm Thị T và ông Hoàng Văn L được ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung Hoàng Kim N, sinh ngày 19/02/2008 và Hoàng Thái D, sinh ngày 12/01/2010 cho bà Phạm Thị T có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con chung. Ông Hoàng Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Buộc bà Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp theo biên lai thu số 0005191 ngày 19/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Bà Phạm Thị T đã nộp đủ án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
Phạm Ngọc Diện – Nguyễn Ngọc Sơn |
Phạm Phước Minh Phong |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phước Minh Phong |
Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng về ly hôn
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa nguyên đơn chị Phạm Thị T và bị đơn anh Hoàng Văn L
