Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN NAM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06-6-2025

V/v: Tranh chấp Ly hôn,

nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Hồng Cúc
Bà Nguyễn Thị Đan Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 24/2025/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21 /2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/5/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Báo Thị H, sinh ngày: 05/6/1984 (Vắng mặt – có yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: Ông Kiều Văn T, sinh ngày: 01/01/1983 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Báo Thị H trình bày: Bà với ông Kiều Văn T thông qua mai mối nên đã tìm hiểu và tiến đến chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới, đồng thời đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T. Do giấy chứng nhận kết hôn bản chính đã bị thất lạc nên bà nộp cho Tòa án bản sao.

Sau khi kết hôn bà và ông T sống chung nhà với cha mẹ bà, sau vài năm thì bà và ông T mua đất và xây nhà ra sống riêng. Quá trình vợ chồng chung sống không hạnh phúc, do ông T suốt ngày ăn nhậu rồi chửi mắng bà, đến năm 2003, ông T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên không quan tâm, chăm sóc bà cũng như con cái. Hiện bà với ông T đã không còn sống chung với nhau từ nhiều năm nay, ông T đã bỏ đi nơi khác từ nhiều năm không liên lạc về. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Kiều Văn T.

- Về con chung: Bà với ông Kiều Văn T có 03 con chung tên Kiều Văn T1, sinh ngày 11/12/2004, hiện nay đã trưởng thành; Kiều Văn B, sinh ngày 04/12/2016 và Kiều Nữ Huyền H1, sinh ngày 05/11/2021. Hiện các con đang sống với bà, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi các con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông Kiều Văn T tự thỏa thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía bị đơn: Ông Kiều Văn T trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ nhưng ông Kiều Văn T không đến Toà án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời trình bày.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
  • Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Báo Thị H, bà H được ly hôn ông Kiều Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Báo Thị H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, nuôi con với ông Kiều Văn T; ông Kiều Văn T có nơi cư trú tại thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam.

[2]. Về việc vắng mặt của các đương sự:

- Đối với nguyên đơn bà Báo Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn ông Kiều Văn T đã được Tòa án tiến hành niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về hôn nhân: Bà Báo Thị H và ông Kiều Văn T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, theo giấy chứng nhận kết hôn (bản sao) số 33/2012, quyển số 01/2009, ngày 06/8/2012 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T. Vì vậy, xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Báo Thị H và ông Kiều Văn T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

[3.2]. Về tình trạng hôn nhân: Bà Báo Thị H cho rằng vợ chồng chung sống không hạnh phúc do ông Kiều Văn T2 thường xuyên nhậu nhẹt, đánh đập vợ con. Tại biên bản xác minh, chính quyền địa phương xác định, ông T hiện không có mặt tại địa phương, tuy nhiên địa phương cho biết thêm rằng ông T thường xuyên nhậu nhẹt và đánh đập vợ con. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện các thủ tục niêm yết theo quy định nhưng ông T không đến Toà, cũng không có văn bản trình bày ý kiến nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng của ông T, quá trình giải quyết vụ án, bà H kiên quyết yêu cầu được ly hôn ông T. Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa Báo Thị H và ông Kiều Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Báo Thị H. Bà Báo Thị H được ly hôn ông Kiều Văn T.

[3.3]. Về con chung: Bà Báo Thị H và ông Kiều Văn T có 03 con chung tên Kiều Văn T1, sinh ngày 11/12/2004, Kiều Văn B, sinh ngày 04/12/2016 và Kiều Nữ Huyền H1, sinh ngày 05/11/2021. Hiện cháu T1 đã trưởng thành, lao động được. Bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 cháu Kiều Văn B và Kiều Thị Huyền H1 là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của con nên chấp nhận.

[3.4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Báo Thị H tự nguyện không yêu cầu ông Kiều Văn T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Báo Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Báo Thị H, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bà Báo Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 5 Điều 177, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều: 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Báo Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Báo Thị H được ly hôn ông Kiều Văn T.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Kiều Văn B, sinh ngày 04/12/2016 và Kiều Nữ Huyền H1, sinh ngày 05/11/2021 cho bà Báo Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về án phí: Bà Báo Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004865 ngày 12/3/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Thuận Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Thuận Nam;
  • - UBND xã Phước Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đã ký

Dương Khánh Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger